Hiển thị các bài đăng có nhãn Dân sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dân sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 6, 2014

Tư vấn về chia di sản thừa kế

Tóm tắt câu hỏi:
Kính gửi , tên tôi là Phạm Hữu Lộc, hiện nay tôi có một số thắc mắc về vấn đề thừa kế tài sản không có di chúc. Sự việc như sau: Bà ngoại tôi có sáu người con, cả sáu người đều đã ra ở riêng và tách hộ khẩu, chỉ còn người con trai trưởng là còn tên trong họ khẩu.

Ông ngoại tôi đã mất được 10 năm. Nay bà ngoại tôi mất, để lại một căn nhà, nhưng căn nhà này hiện đang nằm trong diện chờ giải tỏa để cấp chủ quyền sử dụng đất, theo quy định thì sẽ cấp cho bà ngoại tôi, nay bà ngoại tôi đã mất. Liên hệ cho phía nhà đất thì họ nói rằng sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người còn đứng tên trong sổ hộ khẩu gia đình. Tôi muốn hỏi liệu người con trai trưởng có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không? Nếu được cấp thì các anh em còn lại có được quyền phân chia căn nhà theo dạng thừa kế theo pháp luật hay không? Kính mong quý công ty tư vấn giúp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Luật sư tư vấn.
Với những thông tin bạn cung cấp, tôi xin đưa ra các quan điểm pháp lý để giải quyết vụ việc như sau:
1. Người con trai trưởng của bà ngoại bạn không có quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ phía nhà đất. Vì diện tích đất đứng tên bà ngoại bạn, do đó, khi bà mất mà không để lại di chúc thì diện tích đất này sẽ được mang chia theo pháp luật về thừa kế. Người con trai trưởng có tên trong hộ khẩu cũng chỉ là một người thừa kế theo pháp luật như anh chị em của mẹ bạn (những đồng thừa kế).
2. Về quyền phân chia ngôi nhà của các anh chị em còn lại.
Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005 quy định:
 “1.Những người thừa kế theo pháp luật đươc quy định theo thứ tự sau đây:
Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha để, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2.Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau
3.Nhưng người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Theo đó, trong trường hợp này, tất cả các anh chị em ruột của mẹ bạn đều là những người đồng thừa kế, được hưởng phần thừa kế như nhau và bằng với phần thừa kế của người con trai trưởng. Như vậy, mảnh đất của bà ngoại bạn để lại sẽ được chia thành 6 phần bằng nhau cho 6 người con. Để được pháp luật công nhận là các đồng thừa kế (Tức sẽ cùng có quyền phân chia căn nhà) thì tất cả các anh em của mẹ bạn nên ủy quyền cho một người trong số những người đồng thừa kế đến văn phòng công chứng gần nhất để làm thủ tục khai nhận di sản. Về hồ sơ và trình tự thủ tục khai nhận di sản bạn sẽ được hướng dẫn chi tiết tại văn phòng công chứng.
Chúc bạn và gia đình sớm giải quyết được bất đồng này để giữ vững tình anh em.
------------------------------
Chú ý: Bài viết trên có trích dẫn một số quan điểm pháp lý, các quy định của pháp luật, ý kiến tư vấn pháp lý của các chuyên gia, luật sư và chuyên viên tư vấn. Tuy nhiên tất cả các ý kiến và quy định trích dẫn chỉ mang tính tham khảo. Các văn bản pháp luật được dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được thay thế tại thời điểm tham khảo bài viết. Bạn đọc tham khảo bài viết, người truy cập, khách hàng…không được coi đó là ý kiến pháp lý chính thức để vận dụng vào các trường hợp cụ thể. Để có được ý kiến pháp lý cho từng trường hợp một các chính xác nhất, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH
715 Trần Hưng Đạo - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định

 Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
 Trân trọng./.
Ông: Huỳnh Văn Chưa - Giám đốc Trung tâm

Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

Nhờ người khác đứng tên giấy đăng ký xe

Tóm tắt câu hỏi:
Chào luật sư tôi muốn hỏi về việc: năm 2013 tôi có mua một chiếc xe máy wave 110 phân khối, do tôi không có hộ khẩu thành phố nên tôi nhờ một người quen đứng tên toàn bộ giấy tờ đều mang tên người đó. Do bố tôi nợ người đó 15 triệu đồng nên bây giờ người đó đòi bắt xe của tôi để trừ nợ nhưng chưa bắt được.

Xe hiện giờ tôi đang đi, tôi đang đứng trước nguy cơ bị kiện lấy xe ăn trộm vì giấy tờ pháp lý đều mang tên người đó. Vậy xin nhờ Luật sư tư vấn cho tôi về vấn đề: làm sao để tránh bị kiện tụng và nếu bị kiện tôi phải làm gì để chứng minh đó là tài sản của tôi. Xin nhờ luật sư tư vấn giải đáp giúp tôi. Tôi xin cảm ơn Luật sư!
Luật sư tư vấn:
Từ những thông tin mà bạn cung cấp những hướng giải quyết sau:
Thứ nhất, bạn nên thỏa thuận lại với người đang giữ giấy tờ xe của mình về việc bố bạn nợ tiền người đó không có liên quan gì tới bạn nên người đó không thể lấy việc này để uy hiếp bạn là sẽ kiện bạn về hành vi trộm cắp chiếc xe máy. Bởi lẽ, khi bố bạn vay tiền người đó thì giữa hai người đã thiết lập một giao dịch dân sự vay mượn tiền, bố bạn có nghĩa vụ là trả khoản tiền 15 triệu đồng cho người cho vay.
Thứ hai, khi bạn nhờ người này đứng tên cho chiếc xe máy wawe 110 thì giữa 2 người đã thiết lập một quan hệ hợp đồng về ủy quyền. Điều 581 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hợp đồng ủy quyền như sau: Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Hợp đồng ủy quyền có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng. Do bạn không nêu rõ hình thức ủy quyền của bạn cho người đang đứng tên trên chiếc xe máy như thế nào nên dựa vào những thông tin bạn cung cấp, Luật sư có thế tư vấn cho bạn theo 2 hướng như sau:
-  Nếu giữa bạn và người ấy có thiết lập với nhau 1 bản hợp đồng ủy quyền hay giấy tờ pháp lý khác (một tờ giấy có chữ kí của 2 bên xác nhận là bạn nhờ người kia đứng tên hộ) hoặc có người làm chứng việc bạn nhờ người này đứng tên xe máy thì bạn có quyền yêu cầu người kia sang tên mọi giấy xác lập quyền sở hữu chiếc xe máy cho bạn, nếu họ không đồng ý thì bạn có thể khởi kiện Tòa án.
- Nếu bạn không có giấy tờ gì chứng minh chiếc xe là của bạn thì trường hợp này có bất lợi cho bạn vì mọi giấy tờ pháp lý chứng minh chiếc xe là của người ấy vì vậy việc lấy lại chiếc xe là rất khó.
------------------------------
Chú ý: Bài viết trên có trích dẫn một số quan điểm pháp lý, các quy định của pháp luật, ý kiến tư vấn pháp lý của các chuyên gia, luật sư và chuyên viên tư vấn. Tuy nhiên tất cả các ý kiến và quy định trích dẫn chỉ mang tính tham khảo. Các văn bản pháp luật được dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được thay thế tại thời điểm tham khảo bài viết. Bạn đọc tham khảo bài viết, người truy cập, khách hàng…không được coi đó là ý kiến pháp lý chính thức để vận dụng vào các trường hợp cụ thể. Để có được ý kiến pháp lý cho từng trường hợp một các chính xác nhất, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH
715 Trần Hưng Đạo - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định

 Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
 Trân trọng./.
Ông: Huỳnh Văn Chưa - Giám đốc Trung tâm

Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Vi phạm đạo đức nhà giáo

Tóm tắt câu hỏi:
Xin chào luật sư! Tôi xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi là một giáo viên,trong một lần uống rượu say tôi có gọi một em học sinh nữ xuống phòng, nhưng mới chỉ cầm tay và xoa má, chứ chưa làm chuyện gì cả.

Thế nhưng hiệu trưởng của trường đã dọa tôi là sẽ đưa sự việc của tôi xuống phòng giáo dục, đồng chí ấy ép tôi phải viết bản kiểm điểm và bản tường trình, bên cạnh đó cũng đã cho em học sinh nữ kia viết bản tường trình (em học sinh nữ năm nay 15 tuổi).
 Trong khi đó đã nhờ một người cháu nói với tôi phải mua 5 chỉ vàng, kèm theo cả hóa đơn đỏ mang lên cho cô hiệu trưởng đó thì mới chịu bỏ qua cho tôi và sẽ không đưa sự việc của tôi xuống phòng giáo dục. Cho đến bây giờ vẫn còn những lời nói xúc phạm tôi, đe dọa đuổi tôi ra khỏi nhà trường. Tôi mong các luật sư tư vấn giúp tôi. Nếu sự việc của tôi bị đưa ra luật pháp thì như thế nào, tôi có phải ra khỏi nghành hay bị truy tố pháp luật hay không? Còn đối với việc bà ấy có lời nói đe dọa, xúc phạm thì tôi phải làm thế nào? Xin kính mong các luật sư tư vấn giúp cho tôi. 
Tôi xin chân thành cảm ơn.
    Luật sư tư vấn:
   Câu hỏi của bạn, luật sư xin tư vấn như sau:
   Thứ nhất, trường hợp của anh có thể bị xử lí kỉ luật theo Quyết định số 16/2008 của Bộ giáo dục và đào tạo về Ban hành quy định về đạo đức nhà giáo. Trường hợp của anh chưa đến mức xử phạt ra khỏi ngành hay bị truy tố pháp luật.
   Điều 6 về Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo quy định như sau:
“1. Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy chế, quy định; không gây khó khăn, phiền hà đối với người học và nhân dân. 
2. Không gian lận, thiếu trung thực trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục.
3. Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử, thành kiến người học; không tiếp tay, bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học tập, rèn luyện của người học và đồng nghiệp.
4. Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người học, đồng nghiệp, ngư­ời khác. Không làm ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt của đồng nghiệp và người khác.
5. Không tổ chức dạy thêm, học thêm trái với quy định.
6. Không hút thuốc lá, uống rượu, bia trong công sở, trong trường học và nơi không được phép hoặc khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy và tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường.
7. Không sử dụng điện thoại di động và làm việc riêng trong các cuộc họp, trong khi lên lớp, học tập, coi thi, chấm thi.
8. Không gây bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tập thể và trong sinh hoạt tại cộng đồng.
9. Không được sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền, phổ biến những nội dung trái với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước.
10. Không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc; không đi muộn về sớm, bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén, dồn ép chương trình, vi phạm quy chế chuyên môn làm ảnh hưởng đến kỷ cương, nề nếp của nhà trường.
11. Không tổ chức, tham gia các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội như : cờ bạc, mại dâm, ma tuý, mê tín, dị đoan; không sử dụng, lưu giữ, truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy, độc hại.”

    Như vậy, anh có thể bị xử lý theo các khoản 4 và khoản 6 của Điều 6 Quyết định 16/2008 của Bộ giáo dục và đào tạo về hành vi của mình.
    Thứ hai, hiệu trưởng nơi anh làm việc có hành vi xúc phạm và đe dọa anh là vi phạm quy định của pháp luật. Đối với vấn đề này, anh có thể yêu cầu Hiệu trưởng không được có hành vi xúc phạm danh dự và nhận phẩm của anh nữa. Nếu trong trường hợp Hiệu trưởng vẫn có hành vị xúc phạm đe dọa anh thì anh có thể làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết.
------------------------------
Chú ý: Bài viết trên có trích dẫn một số quan điểm pháp lý, các quy định của pháp luật, ý kiến tư vấn pháp lý của các chuyên gia, luật sư và chuyên viên tư vấn. Tuy nhiên tất cả các ý kiến và quy định trích dẫn chỉ mang tính tham khảo. Các văn bản pháp luật được dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được thay thế tại thời điểm tham khảo bài viết. Bạn đọc tham khảo bài viết, người truy cập, khách hàng…không được coi đó là ý kiến pháp lý chính thức để vận dụng vào các trường hợp cụ thể. Để có được ý kiến pháp lý cho từng trường hợp một các chính xác nhất, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH
715 Trần Hưng Đạo - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định

 Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
 Trân trọng./.
Ông: Huỳnh Văn Chưa - Giám đốc Trung tâm

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014

Tư vấn Vay tiền có tài sản thế chấp

Tóm tắt câu hỏi:
Tôi có vấn đề như sau rất mong được giúp đỡ, nếu được sự quan tâm của quý công ty, tôi vô cùng biết ơn.Vào năm 2012, tôi cùng chồng đã vay của anh A 270 triệu với hợp đồng thế chấp một miếng đất trị giá lúc đó lên tới 350 triệu (đã giao bìa) và đồng ý trả lãi với giá trị 3%/tháng đến năm 2012.

Nhưng sau này làm ăn thua lỗ, tới năm 2013 tôi không còn khả năng trả lãi vì lãi quá cao và đã nợ lãi 10 tháng là 80 triệu.Tôi đã gọi điện đề nghị A lấy đất nhưng A không đồng ý. Trong lúc chờ đợi, anh A có gọi điện và yêu cầu vợ chồng tôi xuống nhà có việc, nhưng lúc đó tôi ốm nên chưa xuống được. Vợ chồng A liền buộc chồng tôi kí giấy nợ mới với tổng giá trị lên tới 350 triệu (270triệu tiền gốc và 80 triệu tiền lãi) và không đồng ý lấy đất. Vì trong thế yếu, chồng tôi đã kí vào giấy nợ 350 triệu. Đến gần đây, khi tôi làm ăn trì trệ, thua lỗ liên miên thì vợ chồng A thường xuyên lên nhà  tôi đập phá đòi nợ. Chồng tôi cũng không hề cho tôi biết. Ông A đã khởi kiện ra tòa tuy nhiên ông A lại giấu tờ giấy nợ cũ với chữ kí của 2 vợ chồng tôi và không cho tòa, chỉ giao giấy nợ mới. Tôi và gia đình đang rất hoang mang không biết làm gì. Mong Quý luật sư có thể giúp.
Xin cảm ơn !
    Luật sư tư vấn:
   Câu hỏi của bạn, Luật sư xin tư vấn như sau:
   Thứ nhất, trường hợp mà hợp đồng vay tài sản giữa bạn và anh A đã đến hạn trả nợ mà bạn không có khả năng trả được thì sẽ được giải quyết theo quy định tại Khoản 5 Điều 474 Bộ luật dân sự 2005 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau: “5.Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”
    Như vậy, bạn sẽ chỉ phải trả các khoản lãi như theo quy định tại Khoản 5 Điều 474 Bộ luật dân sự 2005. 
    Bên cạnh đó Điều 305 Bộ luật dân sự 2005 quy định về trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự như sau:
“1. Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

   Hành vi dọa nạt, đập phá nhà bạn của anh A là vi phạm pháp luật. Trong trường hợp này bạn có thể yêu cầu có quan có thẩm quyền can thiệp, đảm bảo sự an toàn, bình yên cho gia đình bạn.
    Thứ hai, hành vi nhập lãi vào nợ gốc để tính lãi mới của anh A là trái với quy định của pháp luật. Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Đối với hợp đồng vay tài sản có lãi, khi đến hạn trả nợ mà bên vay không thực hiện nghĩa vụ, thì bên cho vay không được thỏa thuận với bên vay nhập lãi vào nợ gốc để tính lãi vào thời gian tiếp theo.”
    Vì vậy, khi anh A khởi kiện đơn ra tòa bạn có quyền trình bày trước tòa về sự việc mà anh A yêu cầu chồng bạn ký vào giấy vay nợ bao gồm cả nợ gốc và lãi thành nợ mới như trên để được tòa án giải quyết thỏa đáng.

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

Chia thừa kế sau khi di chúc bị mất được tìm thấy

Tóm tắt câu hỏi:
Sau khi cô mình mất có để lại di chúc (di chúc hợp pháp - đúng theo quy định pháp luật) nhưng sau đó di chúc bị thất lạc nên tài sản cô mình được chia theo pháp luật, nhưng sau đó lại tìm được di chúc.

Vậy cho mình hỏi, tài sản của cô mình để lại có chia lại theo di chúc hay không?
Luật sư tư vấn:
 Chào bạn! Vấn đề của bạn, Luật sư xin tư vấn như sau:
     Trong trường hợp của bạn là cô bạn có để lại di chúc nhưng bị thất lạc nên việc phân chia di sản sẽ giải quyết theo quy định tại Điều 666 Bộ luật Dân sự.    
“Điều 666. Di chúc bị thất lạc, hư hại 
1. Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.
2. Trong trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.” 

     Như bạn nói và trong trường hợp di chúc của cô bạn bị thất lạc thì di sản được chia theo pháp luật. Tuy nhiên, sau khi chia theo pháp luật thì di chúc được tìm thấy thì trong trường hợp tài sản đã chia nhưng chưa đăng ký quyền sở hữu (đối với bất động sản và các tài sản bắt buộc phải đăng ký theo quy định của pháp luật,…) thì sẽ chia lại theo di chúc, đối với các động sản đã chia thì các đồng thừa kế có thể thỏa thuận lại chia theo di chúc hoặc giữ nguyên như đã chia theo pháp luật trong trường hợp tài sản đã không còn nguyên giá trị.
***
------------------------------
Chú ý: Bài viết trên có trích dẫn một số quan điểm pháp lý, các quy định của pháp luật, ý kiến tư vấn pháp lý của các chuyên gia, luật sư và chuyên viên tư vấn. Tuy nhiên tất cả các ý kiến và quy định trích dẫn chỉ mang tính tham khảo. Các văn bản pháp luật được dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được thay thế tại thời điểm tham khảo bài viết. Bạn đọc tham khảo bài viết, người truy cập, khách hàng…không được coi đó là ý kiến pháp lý chính thức để vận dụng vào các trường hợp cụ thể. Để có được ý kiến pháp lý cho từng trường hợp một các chính xác nhất, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH
715 Trần Hưng Đạo - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định

 Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
 Trân trọng./.
Ông: Huỳnh Văn Chưa - Giám đốc Trung tâm

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

Hỏi về vay tiền

Tóm tắt câu hỏi:
Xin cho tôi hỏi: tôi có vay công ty tài chính PPF số tiền là 35.000.000 đồng và đóng 3.086.000 đồng 1 tháng trong vòng 2 năm. Tính luôn vốn và lãi là 74.062.000 đồng.

Hiện tại tôi đã đóng được 10 tháng với số tiền là 30.860.000 đồng, nhưng do hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn nên không thể chi trả nổi nữa.Vậy nếu tôi không đóng tiền đúng trong hợp đồng, tôi có bị truy tố dân sự hay hình sự hoặc cưỡng chế tài sản hay không (lúc vay tôi không có thế chấp tài sản).
Luật sư tư vấn:
Với những thông tin mà bạn cung cấp, Luật sư xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:
    Trong tình huống, bạn không nói rõ bạn vay tiền công ty tài chính PPF với lãi suất là bao nhiêu. Tuy nhiên, dựa theo số tiền vay và số tiền phải trả, có thể tính được trong trường hợp này, lãi suất mà bạn phải trả cho công ty PPF là 55,8%/năm.  Theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 thì:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.
2. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi xuất, áp dụng lãi xuất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

    Như vậy, những hành vi cho vay với lãi suất cao hơn 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố với loại cho vay tương ứng thì là hành vi cho vay nặng lãi.
    Theo Điều 1 Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “quy định mức lãi suất bằng đồng Việt Nam là 9%/năm”. Do đó, nếu lãi suất cho vay cao hơn 13,5%/năm thì đó là hành vi cho vay nặng lãi.
    Như vây, với trường hợp của bạn thì công ty PPF đã vi phạm pháp luật, hành vi cho bạn vay tiền của công ty PPF là hành vi cho vay nặng lãi.
    Hiện nay, đối với hành vi cho vay nặng lãi, pháp luật có các hướng xử lý như sau:
   - Theo pháp luật dân sự
   Hành vi cho vay nặng lãi là hành vi vi phạm pháp luật dân sự về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự nói trên. Do đó, khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật không thừa nhận và bảo về quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Trong trường hợp các bên không thống nhất với nhau được về mức lãi suất, bên nhận vay có thể khởi kiện ra Tòa án dân sự.
   - Theo pháp luật Hình sự
    Điều 163, Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, quy định về tội cho vay nặng lãi như sau:
   “1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên, có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một đến 10 lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.
    2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
   3. Người phạm tội cón có thể bị phạt tù từ 1 đến 5 lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm.”
    Đối chiếu với hành vi cho vay nặng lãi của công ty PPF thì hành vi này của công ty chưa đủ cấu thành tội Cho vay nặng lãi theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Do đó, hành vi của công ty sẽ bị xử lý về dân sự. Theo đó, khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Điều này có nghĩa, khi xảy ra tranh chấp, đối với số tiền lãi, bạn chỉ phải trả lãi cho công ty với mức tối đa là 13,5%/năm. Cụ thể thì số tiền lãi mà bạn phải trả đối với số tiền vay 35000000  với mức lãi suất 13,5%/năm là 9.450.000. Tức là, tổng số tiền bạn phải trả cho công ty PPF trong hai năm là 35.000.000 + 9.450.000 = 44.450.000. Vì bạn đã trả được 30.860.000 nên nếu có tranh chấp, bạn phải tiếp tục trả cho công ty PPF là 13.590.000. Nếu bạn không trả số tiền này mà công ty PPF kiện bạn, thì lúc này Tòa án sẽ buộc bạn phải trả nợ, nếu bạn không có tiền để trả thì cơ quan thi hành án sẽ tiến hành kê biên tài sản của bạn để trả nợ.
    Trên đây là một số quan điển tư vấn của chúng tôi, hy vọng bạn có thể giải quyết được tốt nhất trường hợp của mình. Lãi suất 55,8%/năm mà chúng tôi tính được là dựa trên số tiền vay và số tiền bạn phải trả mà bạn đã cung cấp. Bạn nên xem kỹ lại hợp đồng vay và xác định lãi suất vay là bao nhiêu, từ đó xác định hành vi của công ty PPF có phải là hành vi cho vay nặng lãi hay không, từ đó mới có thể bảo vệ quyền lợi của mình. Chúc bạn thành công!

------------------------------
Chú ý: Bài viết trên có trích dẫn một số quan điểm pháp lý, các quy định của pháp luật, ý kiến tư vấn pháp lý của các chuyên gia, luật sư và chuyên viên tư vấn. Tuy nhiên tất cả các ý kiến và quy định trích dẫn chỉ mang tính tham khảo. Các văn bản pháp luật được dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được thay thế tại thời điểm tham khảo bài viết. Bạn đọc tham khảo bài viết, người truy cập, khách hàng…không được coi đó là ý kiến pháp lý chính thức để vận dụng vào các trường hợp cụ thể. Để có được ý kiến pháp lý cho từng trường hợp một các chính xác nhất, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH
715 Trần Hưng Đạo - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định

 Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
 Trân trọng./.
Ông: Huỳnh Văn Chưa - Giám đốc Trung tâm


Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

Hỏi về chính sách miễn giảm học phí tại các trường đại học

Tóm tắt câu hỏi:
Thưa Luật sư, em là con gia đình chính sách (con thương binh), hiện nay em đang theo học Liên thông tại trường Đại học Quy Nhơn.

Em được biết theo quy định mới của pháp luật thì em sẽ không phải nộp học phí (thay vì trước là nộp học phí sau đó được lĩnh lại tại địa phương) và được nhận ưu đãi tại địa phương). Vậy em muốn được Luật sư giải đáp là điều này có đúng không và thủ tục hành chính như thế nào? Em xin chân thành cảm ơn! Mong sớm nhận được hồi đáp từ quý Luật sư.
     Luật sư tư vấn:
    Trước hết, xin cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Trung tâm, với câu hỏi của bạn, Luật sư xin tư vấn về kiến thức pháp lý như sau:
    Thứ nhất, về việc quy định của pháp luật. Hiện tại, theo quy định tại Khoản 11, Điều 1, Nghị định 74/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 về Sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định về miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế điều thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015, theo đó:
“ Nhà nước thực hiện cấp bù học phí trực tiếp cho các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục đại học công lập có đối tượng thuộc diện được miễn giảm học phí theo số lượng người học thực tế và mức thu học phí….”
     Như vậy, bạn được miễn trực tiếp tại trường. 
    Thứ hai, về thủ tục làm hồ sơ miễn giảm học phí. Thủ tục này thì phải áp dụng theo quy định của mỗi trường, tuy nhiên những các giấy tờ chung cần có:
    - Giấy khai sinh (bản gốc/bản sao);
    - Thẻ sinh viên (bản sao);
    - Thẻ thương binh (bản gốc/ bản sao);
    - Đơn xin hưởng ưu đãi trong giáo dục và đào tạo do Phòng Lao động thương binh xã hội huyện (quận) trở lên cấp;
    - Đơn xin miễn giảm học phí có xác nhận của phòng Công tác sinh viên.
    Chúc bạn sớm thực hiện được nguyện vọng của mình và học tập tốt!
------------------------------
Chú ý: Bài viết trên có trích dẫn một số quan điểm pháp lý, các quy định của pháp luật, ý kiến tư vấn pháp lý của các chuyên gia, luật sư và chuyên viên tư vấn. Tuy nhiên tất cả các ý kiến và quy định trích dẫn chỉ mang tính tham khảo. Các văn bản pháp luật được dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được thay thế tại thời điểm tham khảo bài viết. Bạn đọc tham khảo bài viết, người truy cập, khách hàng…không được coi đó là ý kiến pháp lý chính thức để vận dụng vào các trường hợp cụ thể. Để có được ý kiến pháp lý cho từng trường hợp một các chính xác nhất, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH
715 Trần Hưng Đạo - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định

 Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
 Trân trọng./.
Ông: Huỳnh Văn Chưa - Giám đốc Trung tâm

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Hỏi về việc thi hành án dân sự

Tóm tắt câu hỏi:
Kính thưa Luật Sư ! Rất mong Luật Sư tư vấn cho cháu sự việc như sau: Vợ chồng anh chị A có vay của cháu mấy trăm triệu nhưng cố ý không trả. Tháng 3/2013 cháu đã đưa đơn kiện ra tòa và vợ chồng anh A phải trả lại tiền cho cháu theo kết luận của Tòa án. Nhưng anh A luôn khẳng định không có tài sản gì để trả tiền cho cháu.

Nhưng thực tế như sau:
Cả 2 vợ chồng anh A năm 2012 có nhà và đất nằm trong khu vực giải tỏa để làm đường quốc lộ, vì vậy 2 vợ chồng anh A đã được nhà nước bồi thường 2 mảnh đất khá lớn tại địa điểm khác. Nhưng vì lý do anh A đang còn nợ tiền rất nhiều người , lo lắng sẽ bị lấy mất đất, vợ chồng anh A đã nhờ người em vợ đứng Tên chủ quyền đất, tháng 12/2012 anh A đã bán 7m ngang đất trên tổng mảnh đất được cấp , số đất còn lại anh A xây nhà và đang ở.
Vì người khác đứng tên trên mảnh đất anh A đang ở thì khi cháu gửi đơn yêu cầu Thi Hành Án thì cháu có được Phòng THA cưỡng chế tài sản trên mảnh đất anh A mới xây nhà và đang ở không?
Cháu xin chân thành cảm ơn Luật Sư.
Luật sư tư vấn:
Với những tình tiết mà bạn đưa ra, chúng tôi xin đưa ra quan điểm pháp lý như sau:
- Thứ nhất đối với nhà đất đứng tên em vợ của người vay, đó là tài sản thuộc sở hữu của người đứng tên quyền sử dụng đất, và không thể bị cưỡng chế.
- Thứ hai, về việc bạn không đòi được nợ, chúng tôi tán thành quan điểm của bạn là bạn nên gửi đơn yêu cầu khi hành án, Chấp hành viên sẽ tiến hành xác mình điều kiện thi hành án của người vay nợ theo yêu cầu của bạn đồng thời tiến hành các biện pháp cần thiết để cưỡng chế thi hành án. Bạn có thể tham khảo ở Điều 71. Biện pháp cưỡng chế thi hành án
1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
     Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. 
------------------------------
Chú ý: Bài viết trên có trích dẫn một số quan điểm pháp lý, các quy định của pháp luật, ý kiến tư vấn pháp lý của các chuyên gia, luật sư và chuyên viên tư vấn. Tuy nhiên tất cả các ý kiến và quy định trích dẫn chỉ mang tính tham khảo. Các văn bản pháp luật được dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được thay thế tại thời điểm tham khảo bài viết. Bạn đọc tham khảo bài viết, người truy cập, khách hàng…không được coi đó là ý kiến pháp lý chính thức để vận dụng vào các trường hợp cụ thể. Để có được ý kiến pháp lý cho từng trường hợp một các chính xác nhất, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH
715 Trần Hưng Đạo - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định

 Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
 Trân trọng./.
Ông: Huỳnh Văn Chưa - Giám đốc Trung tâm


Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

Hỏi về việc phân chia di sản thừa kế

    Tóm tắt câu hỏi:
Xin chào Luật sư, tôi xin kính mong Luật sư tư vấn nội dung sau: Bố mẹ tôi có 04 con, 2 trai, 2 gái; hiện nay cả 04 đều đã xây dựng gia đình. Năm 1995 mẹ tôi qua đời, năm 1999 bố tôi lấy mẹ kế có sinh 01 con gái và mang về nuôi 01 con nuôi hợp pháp là con riêng của mẹ kế, đến tháng 02/2013 bố tôi qua đời.

1. Việc phân chia tài sản sau khi bố tôi qua đời được xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?
2. Bố tôi có để lại di chúc song không xác nhận tại chính quyền địa phương thì có giá trị pháp lý hoặc giá trị trong nội bộ gia đình không? Khi đó việc phân chia tài sản được xử lý theo di chúc hay theo quy định của pháp luật?
* Một số tình huống :
- Mẹ kế có nguyện vọng lấy chồng tự nguyện thì việc phân chia tài sản được xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?
- Mẹ kế vi phạm đạo đức, ngoại tình thì phải xử lý thế nào? việc phân chia tài sản được xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?
Xin trân trọng cảm ơn!
Luật sư tư vấn:
Chào bạn!
Về vấn đề mà bạn quan tâm, chúng tôi xin đưa ra quan điểm pháp lý như sau:
1. Ở trường hợp này, bạn cần chú ý rằng, tại thời điểm năm 1995, khi mẹ bạn qua đời, ½ khối tài sản của hai cụ là di sản thừa kế mà mẹ bạn để lại, do chưa được phân chia di sản thừa kế nên ½ khối tài sản này hiện nay là tài sản chung của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của mẹ bạn, bao gồm: bố của bạn và 4 anh chị em của bạn.
Đối với khối tài sản này, bạn cần làm đơn yêu cầu chia tài sản của các đồng sở hữu
Do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ về tình trạng tài sản nên chúng tôi chỉ đưa ra định hướng rằng để xác định những tài sản nào thuộc khối di sản mà mẹ bạn để lại thì cần phải xem xét đến nguồn gốc hình thành của tài sản đó, xem tài sản đó hình thành trong thời kỳ hôn nhân của cha bạn với mẹ bạn hay trong thời kỳ hôn nhân giữa cha bạn và mẹ kế của bạn.
2. Đối với di sản thừa kế của bố của bạn, bao gồm ½ khối tài sản chung của ông với người vợ hai.
Theo quy định của pháp luật, "Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết" (điểm a khoản 1 điều 676)
như vậy, những người sau đây trong gia đình bạn sẽ được hưởng thừa kế: mẹ kế của bạn (nếu như bố của bạn với mẹ kế có đăng ký kết hôn), 4 anh chị em  bạn, con gái của bố bạn với mẹ kế và con nuôi hợp pháp
Về việc phân chia di sản theo pháp luật: ở khoản 2 Điều 676 quy định: Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Khoản 4 Điều 652 quy định: "Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này", Đối chiếu với khoản 1, có các điều kiện như sau:
"a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật"
Như vậy, để biết bản di chúc mà bố của bạn để lại có giá trị pháp lý hay không thì bạn cần đối chiếu với các quy định trên.! Tuy nhiên, việc chứng minh cụ lập di chúc trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép là rất khó, và gần như không thể.
Khi phân chia di sản, trước hết những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:
+ Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
+ Cách thức phân chia di sản.
Nếu những người thừa kế có tranh chấp, không đi đến một một cách thức chung thì một trong các bên có quyền khởi kiện dân sự yêu cầu chia thừa kế. Tòa án sẽ thực hiện việc xem xét tính hợp pháp của di chúc xem trường hợp của gia đình bạn, di sản được phân chia theo di chúc hay theo pháp luật!
3. Với một số tình huống mà bạn đưa ra, quan điểm pháp lý của chúng tôi như sau:
- Chỉ cần tại thời điểm mở thừa kế, mẹ kế của bạn và bố của bạn đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp thì việc mẹ kế có nguyện vọng lấy chồng không ảnh hưởng đến việc phân chia di sản đã nói ở trên
- Việc mẹ kế của bạn có quan hệ ngoại tình, không ảnh hưởng đến việc phân chia di sản vì đó không phải là một lý do để tước quyền hưởng thừa kế của một cá nhân. Ở khoản 1 Điều 643 BLDS quy định về những trường hợp không được hưởng di sản, bao gồm:
"a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản."
Chúc bạn sức khỏe, hạnh phúc và bình an!