Thứ Tư, 7 tháng 5, 2014

CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ, VÀ VIỆC THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TGPL


I. TẠI SAO PHẢI CÓ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ?
Một là : Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, có mặt tích cực là thúc đẩy nền kinh tế-xã hội phát triển nhưng có mặt tiêu cực khác là làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng, các khu vực, các nhóm xã hội. Khoảng cách giàu nghèo về kinh tế tất yếu dẫn đến sự  bất bình đẳng trong việc tiếp cận với các điều kiện về giáo dục, y tế, văn hoá… và đặc biệt là tiếp cận với các dịch vụ pháp lý. Người nghèo thường không có điều kiện về kinh tế để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí, nên trong nhiều trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không mời được Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại.
Hai là : Trong điều kiện hệ thống pháp luật của nước ta đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện, số lượng văn bản pháp luật ngày càng nhiều, lại thường xuyên được bổ sung, sửa đổi thì việc người dân tiếp cận với pháp luật để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, để xử sự theo đúng pháp luật trong các quan hệ của đời sống xã hội không phải dễ dàng. Do vậy, tổ chức pháp lý nhà nước ra đời đã tạo cơ hội và những điều kiện cần thiết để người nghèo, người có công với cách mạng có điều kiện hoàn cảnh tương tự như người khác trong tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật, thực hiện công tác đề ơn, đáp nghĩa và góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Ba là: Công tác trợ giúp pháp lý còn là điều kiện nhằm để bảo vệ nhân quyền, bảo đảm công lý, là một trong những mục tiêu của phong trào giảm nghèo toàn cầu và phù hợp với xu thế phát triển, tiến bộ của thế giới.
II. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ:
          Ngày 29 tháng 6 năm 2006 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/01/2007. Để Luật Trợ giúp pháp lý nhanh chóng đi vào hiện thực, ngày 12/01/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 07/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng, để thúc đẩy các hoạt động của trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, để đảm bảo việc triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý có chất lượng, Bộ  trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành nhiều văn bản đồng thời liên tịch với một số bộ, ngành ban hành một số Thông tư hướng dẫn thực hiện các hoạt động TGPL. Trong đó các văn bản như: Thông tư 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ TGPL và quản lý nhà nước về TGPL, Quyết định số 09/2008/QĐ-BTP ngày 08/1/2/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành quy tắc nghề nghiệp TGPL và nhất là Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP ngày 29/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL.
III. CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TGPL:
Theo quy định tại Quyết định 11/2008/QĐ-BTP mục đích điều chỉnh của chất lượng vụ việc TGPL là :
1. Nâng cao chất lượng vụ việc TGPL, tạo cơ sở cho người có yêu cầu trợ giúp pháp lý được thụ hưởng dịch vụ pháp lý miễn phí với chất lượng tốt nhất.
2. Tạo cơ sở pháp lý để người thực hiện trợ giúp pháp lý tự đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý do mình thực hiện hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; để cơ quan, tổ chức và nhân dân giám sát việc thi hành pháp luật về trợ giúp pháp lý.
3. Làm căn cứ xác định trách nhiệm, năng lực của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý để xác định mức độ trách nhiệm trong trường hợp có sai sót và có biện pháp bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực của người thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
IV. TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TGPL:
Việc đánh giá chất lượng vụ việc TGPL phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn về hình thức TGPL, theo quy định của Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL. Cụ thể là :
1. Các tiêu chuẩn chung:
a) Tiêu chuẩn tạo điều kiện thuận lợi cho người được trợ giúp pháp lý tiếp xúc, trình bày và cung cấp thông tin về vụ việc trợ giúp pháp lý:
1. Người có yêu cầu trợ giúp pháp lý hoặc người thân thích của người có yêu cầu trợ giúp pháp lý được tạo thuận lợi để tiếp xúc, trình bày, cung cấp thông tin về vụ việc yêu cầu trợ giúp pháp lý.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý trực tiếp tiếp xúc, làm việc với người được trợ giúp pháp lý hoặc người thân thích của họ, với những người có quyền và lợi ích liên quan và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan để người được trợ giúp pháp lý có điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp thông tin, theo dõi, giám sát quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý.
3. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khi phân công vụ việc có trách nhiệm tạo điều kiện để người thực hiện trợ giúp pháp lý tiếp xúc với người có yêu cầu; lựa chọn phân công người thực hiện trợ giúp pháp lý phù hợp, am hiểu sâu sắc lĩnh vực pháp luật có liên quan đến yêu cầu trợ giúp pháp lý, có đủ năng lực và trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp.
b) Tiêu chuẩn về tính khách quan, toàn diện và kịp thời
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã nghiên cứu kỹ lưỡng, thu thập đầy đủ và chính xác các thông tin, tài liệu, các chứng cứ pháp lý có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý, đến người được trợ giúp pháp lý để hiểu rõ về bản chất, nội dung yêu cầu trợ giúp pháp lý.
Trong trường hợp có nghi ngờ về tính chính xác, khách quan của thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý do người được trợ giúp pháp lý cung cấp, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải tiến hành xác minh, làm rõ.
2. Người thực hiện TGPL đã nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật có liên quan đến vụ việc để lựa chọn phương án thực hiện trợ giúp pháp lý và vận dụng chính xác các quy phạm pháp luật. Nội dung trợ giúp pháp lý cụ thể, dễ hiểu, dễ vận dụng, có tính khả thi, bảo đảm tiết kiệm, phù hợp với điều kiện, trình độ nhận thức của người được trợ giúp pháp lý.
3. Vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện kịp thời, bảo đảm về thời hạn và thời hiệu theo quy định của pháp luật.
c) Tiêu chuẩn đáp ứng được yêu cầu hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý
1. Người được trợ giúp pháp lý được giải thích về quyền và nghĩa vụ theo pháp luật về trợ giúp pháp lý và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Các quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc được trợ giúp pháp lý để bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật.
3. Vướng mắc về pháp luật của người được trợ giúp pháp lý được giải tỏa theo hình thức trợ giúp pháp lý phù hợp và họ được nâng cao về nhận thức pháp luật.
4. Người được trợ giúp pháp lý hài lòng về thái độ phục vụ, nội dung và cách thức thực hiện trợ giúp pháp lý của người thực hiện trợ giúp pháp lý, của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; được tham gia giám sát và đánh giá về chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý.
5. Người được trợ giúp pháp lý được giải quyết nhanh chóng và đúng pháp luật đối với các yêu cầu về khiếu nại, tranh chấp trong trợ giúp pháp lý.
d) Tiêu chuẩn tuân thủ và phù hợp với pháp luật, không trái đạo đức xã hội
1. Tuân thủ và phù hợp với quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý:
a) Tuân thủ các quy định của pháp luật về người được trợ giúp pháp lý;
b) Phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi hoạt động của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý;
c) Tuân thủ các quy định về người thực hiện trợ giúp pháp lý, phạm vi, hình thức, lĩnh vực và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý;
d) Không vi phạm các quy định của pháp luật về các hành vi bị nghiêm cấm, bí mật nghề nghiệp và những việc không được làm;
đ) Bảo đảm và tuân thủ về thời hiệu và thời hạn thực hiện vụ việc TGPL.
2. Tuân thủ và phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan đến quá trình giải quyết vụ việc của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Các nhận định, đánh giá, giải pháp đưa ra trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý phải chính xác, có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
3. Nội dung trợ giúp pháp lý phải phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc và không trái đạo đức xã hội.
đ)  Tiêu chuẩn đáp ứng các yêu cầu về trình tự, thủ tục
1. Việc thực hiện TGPL với từng hình thức TGPL cụ thể bảo đảm tuân thủ các yêu cầu về trình tự, thủ tục thực hiện vụ việc theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Trình tự, thủ tục thực hiện trợ giúp pháp lý đã được thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý.
e)  Tiêu chuẩn kiểm soát được hậu quả pháp lý phát sinh từ nội dung TGPL
1. Người được trợ giúp pháp lý được cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến yêu cầu trợ giúp pháp lý trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý và các thông tin có liên quan.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý dự báo được những rủi ro, những hậu quả pháp lý sẽ phát sinh khi đưa ra quan điểm, nhận định để người được trợ giúp pháp lý lựa chọn hoặc đề xuất cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng pháp luật và đề xuất được các biện pháp phòng ngừa, hạn chế, khắc phục rủi ro, hậu quả bất lợi trong thời gian ngắn nhất.
g)  Tiêu chuẩn về việc lập hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý đã được lập, quản lý theo đúng quy định của pháp luật, được sắp xếp theo thứ tự thời gian, dễ tra cứu, khai thác và sử dụng.
2. Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý đã thể hiện đầy đủ, chính xác, trung thực quá trình thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý theo hình thức, trình tự thời gian, nội dung khách quan của vụ việc và kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý.
2. Các tiêu chuẩn theo hình thức TGPL:

a) Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc tư vấn pháp luật

1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn chung theo quy định.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã hướng dẫn cho người có yêu cầu trợ giúp pháp lý cách thức, biện pháp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý và các quy định của pháp luật có liên quan đến yêu cầu tư vấn pháp luật.
3. Người thực hiện trợ giúp pháp lý nhận biết được bản chất vụ việc, viện dẫn và giải thích đầy đủ các điều, khoản của văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng trong vụ việc, đưa ra các giải pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để người có yêu cầu trợ giúp pháp lý lựa chọn cách ứng xử phù hợp với pháp luật.
4. Kết quả tư vấn pháp luật đã thể hiện được các nội dung của quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý trong Phiếu thực hiện trợ giúp pháp lý, văn bản tư vấn pháp luật hoặc kiến nghị về vụ việc trợ giúp pháp lý, kiến nghị hành vi công vụ hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật.
b) Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc tham gia tố tụng hình sự
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn chung theo quy định.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã thực hiện tư vấn cho người được trợ giúp pháp lý về các quy định của pháp luật có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý; đưa ra các giải pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để người được trợ giúp pháp lý lựa chọn.
3. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã thông báo kịp thời cho người có yêu cầu về kết quả trợ giúp pháp lý và khi phát hiện ra những tình tiết có thể ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của họ hiện đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét giải quyết.
4. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ khi tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật; nghiên cứu, thu thập, xác minh toàn diện và khách quan các chứng cứ; tiếp xúc với người có yêu cầu để giải thích quy định của pháp luật về tố tụng và thu thập thông tin, xem xét hiện trường, tiếp xúc với nhân chứng, người có liên quan; thu thập tài liệu, thông tin và thực hiện các hoạt động nghiệp vụ khác.
5. Đã trực tiếp tham gia phiên tòa để bào chữa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý.
6. Trong trường hợp thực hiện bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã làm rõ được các vấn đề về nhân thân người phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; nguyên nhân, điều kiện, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi; vì lợi ích hợp pháp của người có yêu cầu đã đề nghị áp dụng hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp tha miễn trách nhiệm hình sự; đưa ra các tình tiết giảm nhẹ, ngoại phạm hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự cho người được trợ giúp pháp lý.
7. Trong trường hợp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã làm rõ được mức độ thiệt hại, các quyền, nghĩa vụ về tài sản và thống nhất với người có yêu cầu về mức độ thiệt hại phải bồi thường, mức bồi thường hoặc việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ tài sản theo quy định của pháp luật.
8. Bản luận cứ bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đã phản ánh trung thực sự thật khách quan của vụ việc, cơ sở pháp lý cần áp dụng, lập luận xác đáng, có sức thuyết phục và được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ghi nhận trong các văn bản tố tụng.
c)  Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc tham gia tố tụng dân sự
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã xem xét kỹ căn cứ khởi kiện, hướng dẫn người có yêu cầu hòa giải hoặc hoàn thiện hồ sơ khởi kiện, thu thập, củng cố chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại để giao nộp cho Toà án theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, lấy lời khai của người làm chứng, đối chất, định giá tài sản hoặc trưng cầu giám định.
Trong trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp của người có yêu cầu trợ giúp pháp lý bị xâm hại thì người thực hiện trợ giúp pháp lý đã phân tích, đánh giá, xác định được mức độ thiệt hại; đưa ra phương án giải quyết vụ việc, biện pháp khôi phục lại quyền, lợi ích và cơ sở pháp lý cụ thể; hướng dẫn về địa chỉ và thủ tục yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
3. Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 8 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn này.
d)  Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc tham gia tố tụng hành chính
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã xem xét kỹ căn cứ khởi kiện, hướng dẫn người có yêu cầu hoàn thiện hồ sơ khởi kiện, thu thập, củng cố chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại, giao nộp cho Toà án. Trong trường hợp cần thiết, hướng dẫn để người có yêu cầu làm đơn đề nghị Toà án thu thập chứng cứ, áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; tham gia cùng với người được trợ giúp pháp lý để thoả thuận với người bị kiện về việc giải quyết vụ án hành chính.
3. Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đã phản ánh được đầy đủ, trung thực sự thật khách quan của vụ việc, cơ sở pháp lý cần áp dụng, đưa ra phương án giải quyết có sức thuyết phục và được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ghi nhận trong các văn bản tố tụng.
đ) Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc đại diện ngoài tố tụng
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn.
2. Người thực hiện TGPL đã trực tiếp làm việc cụ thể với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để giải quyết vụ việc của người có yêu cầu trợ giúp pháp lý.
3. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã kiến nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về biện pháp giải quyết vụ việc nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người có yêu cầu trợ giúp pháp lý hoặc thỏa thuận về cách thức giải quyết vụ việc giữa người thực hiện trợ giúp pháp lý với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được ghi nhận bằng văn bản cùng với những biện pháp bảo đảm thực hiện cam kết của các bên.
e) Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc hoà giải
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, đánh giá đúng bản chất tranh chấp; phát hiện mâu thuẫn gây xung đột lợi ích của các bên; đã phân tích, viện dẫn đầy đủ các điều, khoản của văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để hướng dẫn, giải thích cho các bên tranh chấp; đưa ra phương án giải quyết tranh chấp, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và thuyết phục các bên tự thoả thuận giải quyết tranh chấp.
3. Trong trường hợp hoà giải thành, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã hướng dẫn các bên tranh chấp tự giác thực hiện các cam kết. Trong trường hợp hoà giải không thành đã hướng dẫn người có yêu cầu trợ giúp pháp lý thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình và thực hiện các thủ tục cần thiết yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.
4. Biên bản hoà giải đã thể hiện được đầy đủ nội dung tranh chấp, ý kiến của các bên tranh chấp, cơ sở pháp lý được áp dụng, nội dung giải thích, hướng dẫn hòa giải của người thực hiện trợ giúp pháp lý để các bên lựa chọn và các hướng dẫn cụ thể trong trường hợp hòa giải không thành.
g) Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã hướng dẫn người có yêu cầu trợ giúp pháp lý hoàn thiện đơn, các giấy tờ để đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết công việc của họ; đã trực tiếp hoặc tham gia cùng người có yêu cầu thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại tại cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
3. Việc giúp đỡ người được trợ giúp pháp lý thực hiện các công việc và thủ tục liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại được thể hiện khách quan, trung thực trong hồ sơ vụ việc.
V. MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỒN TẠI LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TGPL:
Qua gần 02 năm thực hiện Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP, kết quả triển khai thực hiện đánh giá chất lượng vụ việc TGPL của Trung tâm như sau:
1. Kết quả quán triệt nội dung Bộ tiêu chuẩn:
- Số lượng Trợ giúp viên được quán triệt:    07
          - Số lượng Cộng tác viên trợ giúp pháp lý được quán triệt: 154
          - Hình thức quán triệt: Phổ biến thông qua hội nghị tập huấn.  
2. Kết quả thực hiện việc đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý (từ thời điểm Bộ tiêu chuẩn có hiệu lực đến hết quý 2/2010): 


TS vụ việc (%)
Số vụ việc tự đánh giá
Số vụ việc được đánh giá của Trung tâm TGPL
Số vụ việc được Sở Tư pháp thực hiện đánh giá
Ghi chú
Tổng số vụ việc đã hoàn thành của tổ chức thực hiện TGPL
   357
     07
      357


Tổng sô vụ việc được đánh giá
   357
     07
      357


Tỉ lệ % số lượng vụ việc được đánh giá / tổng số vụ việc của tổ chức thực hiện TGPL
   100%             

     07
      357




Kết quả đánh giá
Tổng số vụ việc đạt chất lượng tốt
4,8%
(%)

        17


Tổng số vụ việc đạt chất lượng
95,2%
(%)
    07
      340


Tổng số vụ việc không đạt chất lượng tốt

(%)




          3. Thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý chất lượng vụ việc của Trung tâm và trong quá trình đánh giá chất lượng vụ việc:   
          a) Thuận lợi  
          - Có Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý (TGPL), đây là cơ sở pháp lý để người thực hiện TGPL tự đánh giá chất lượng vụ việc TGPL do mình thực hiện hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc đánh giá chất lượng vụ việc được TGPL;
- Thông qua việc đánh giá vụ việc thực hiện TGPL của Trợ giúp viên pháp lý, của các cộng tác viên TGPL, Trung tâm TGPL đã xác định được mức độ trách nhiệm, năng lực của người thực hiện TGPL. Từ đó có kế họach bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao năng lực của người thực hiện TGPL;  
          - Thời gian qua, các Trợ giúp viên pháp lý, các cộng tác viên TGPL thực hiện các vụ việc TGPL cho người được TGPL nhìn chung đảm bảo được yêu cầu, tiêu chuẩn của chất lượng vụ việc TGPL như: việc thực hiện TGPL đối với từng hình thức TGPL cụ thể bảo đảm tuân thủ các yêu cầu về trình tự, thủ tục thực hiện vụ việc theo quy định của pháp luật về TGPL và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; 
          - Phần lớn các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho Trung tâm TGPL, các Chi nhánh TGPL, người thực hiện TGPL thông tin tuyên truyền pháp luật đến với người dân nói chung và người được TGPL nói riêng; đồng thời thực hiện công tác TGPL, trong đó có việc trả lời hoặc phối hợp đề xuất hướng giải quyết các vụ việc liên quan đến TGPL.
          b) khó khăn 
          - Tại Điều 25 của Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP ngày 29/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư Pháp về ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL  trong đó nói rõ việc “Tự đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý” của người thực hiện TGPL khi vụ việc TGPL đã hòan thành. Tuy nhiên, trong thực tế người thực hiện TGPL không tự đánh giá  kết quả vụ việc do mình làm vì họ cho rằng : không ai đánh giá mình làm không đạt chất lượng cả. Mặt khác việc thực hiện tự đánh giá để làm gì? Do vậy, việc đánh giá chất lượng vụ việc TGPL chủ yếu do Trung tâm TGPL cử Trợ giúp viên đánh giá, thẩm định;
                   - Tại Khỏan 1 Điều 44 Luật TGPL quy định: “Trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày hòan thành vụ việc, người thực hiện TGPL phải bàn giao hồ sơ vụ việc TGPL cho tổ chức thực hiện TGPL”. Song, khi áp dụng trong thực tiễn những vụ việc tham gia tố tụng lại vướng mắc. Cụ thể, Vụ việc bào chữa hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL xong, quyết định hoặc bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng cả tháng sau người thực hiện TGPL mới nhận được quyết định, bản án đó. Do vậy, thời hạn bàn giao hồ sơ cho tổ chức TGPL (Trung tâm TGPL) chậm hơn so với thời gian mà điều luật quy định. Vì quyết định hay bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, gửi khi nào là quyền của Tòa án, TGPL không thể bắt buột họ gửi theo yêu cầu thực hiện TGPL được.
          - Trong quá trình thực hiện vụ việc TGPL cho thấy không phải tất cả các vụ việc TGPL người được TGPL đều tỏ ra hài lòng. Vì người thực hiện TGPL ngòai việc thực hiện vụ việc TGPL phù hợp với đạo đức xã hội còn phải tuân theo pháp luật. Chính vì vậy, đôi khi nội dung diễn biến vụ việc của người được TGPL yêu cầu, cung cấp các giấy tờ, thông tin có liên quan đối chiếu với qui định của pháp luật thì họ bất lợi, nhưng khi người thực hiện TGPL tư vấn, giải thích đúng sai thì họ lại phản ứng và tỏ thái độ không hài lòng cứ cho việc họ yêu cầu là đúng, thậm chí có trường hợp phản ứng gay gắt, thiếu tôn trọng…. Như vậy, nếu áp dụng quy định tại Khỏan 4 Điều 8 của Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL thì khó mà đánh giá sự hài lòng của người được TGPL được. 
          4. Những tồn tại qua việc thực hiện đánh giá chất lượng vụ việc TGPL: 
          a) Mặc dù Thông Tư Liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định về TGPL trong họat động tố tụng đã có hiệu lực pháp luật nhưng khi áp dụng trong thực tiễn có cơ quan chưa thực hiện đảm bảo như việc cấp giấy chứng nhận cho người được cử tham gia tố tụng; nhất là việc ra và gởi quyết định hoặc bản án đã xét xử xong cho người thực hiện TGPL để người thực hiện TGPL hòan chỉnh việc lập hồ sơ gởi cho tổ chức thực hiện TGPL đúng thời hạn được qui định tại Khỏan 1 Điều 44 Luật TGPL. Vướng mắc này ít nhiều làm ảnh hưởng đến việc thời hạn bàn giao hồ sơ vụ việc đã hòan thành cho tổ chức TGPL;
          b) Việc tự đánh giá chất lượng TGPL của người thực hiện TGPL, thực hiện gần như là hình thức. Dẫu biết rằng, qua quá trình thực hiện TGPL bằng các hình thức TGPL, sau đó người thực hiện TGPL đối chiếu với các quy định của pháp luật để xem lại việc thực hiện TGPL của mình đảm bảo chất lượng đến đâu, tuy nhiên trong thực tế việc này khó thực hiện, với lý do là bản thân người thực hiện TGPL cũng ít có thời gian xem lại việc tham gia TGPL của mình, mặt khác cũng khó có việc tự đánh giá mình không đạt chất lượng, bỡi vì trong quá trình tham gia thực hiện TGPL nếu không đảm bảo yêu cầu chất lượng, thì người thực hiện TGPL phải có biện pháp hoặc nếu không thực hiện được thì Trung tâm TGPLNN hoặc Chi nhánh TGPL phải có biện pháp khắc phục.
          c) Trong Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL, ngoài một số tiêu chuẩn quy định, có một số nội dung tiêu chuẩn không phù hợp với thực tế. Mặt khác nếu làm được điều này không chỉ gây khó khăn cho người thực hiện TGPL mà có thể ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều mặt của xã hội. Bỡi vì không phải tất cả vụ việc TGPL của người được TGPL đều đúng và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và ngay cả trong thực tế. Không phải tất cả những người được TGPL có yêu cầu được TGPL đều có tính khách quan, đúng với quy định của pháp luatạ hienẹ hành. Do vậy việc: “Khuyến khích người được TGPL và các cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia giám sát chất lượng vụ việc TGPL” ( Khoản 3, Điều 5), hoặc :  “Người được TGPL hài lòng về thái độ phục vụ, nội dung và cách thức thực hiện TGPL của người thực hiện TGPL, của tổ chức thực hiện TGPL; được tham gia giám sát và đánh giá chất lượng vụ việc TGPL” ( Khoản 4, Điều 8; Khoản 3, Điều 22). Ví dụ như rất nhiều trường hợp hiện nay, khi đất đai có giá cao, không ít trường hợp tranh chấp đất không đúng với quy định pháp luật hiện hành như: đòi lại đất cũ trước đây trong cải tạo nông nghiệp; đòi lại đất mà bản thân và gia đình của họ đã bỏ đi làm ăn xa trên 30 năm; hoặc yêu cầu cấp đất đang lấn chiếm vì vị trí đất hiện tại lấn chiếm nằm trong quy hoạch phát triển cụm khu công nghiệp, khu kinh tế có giá trị kinh tế cao…
          VI.KẾT LUẬN:
          Việc thực hiện TGPL có chất lượng là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá về trình độ, năng lực, tâm huyết, yêu cầu… của người thực hiện TGPL. Không vì việc “cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí” mà vụ việc thực hiện TGPL không đảm bảo chất lượng. Do vậy để đảm bảo thực hiện TGPL có chất lượng, nhất là việc tham gia tố tụng rất cần sự phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng, người thực hiện tố tụng đồng thời đối với các vụ việc thực hiện tư vấn pháp luật, thực hiện đại diện ngoài tố tụng cho người được TGPL của các Trợ giúp viên, cộng tác viên rất cần sự phối hợp của các cấp chính quyền trong quá trình giải quyết vụ việc có liên quan đến hoạt động quản lý của chính quyền…

                                                                                             Hùynh Văn Chưa

0 nhận xét:

Đăng nhận xét