Hiển thị các bài đăng có nhãn Thương mại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thương mại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 7, 2014

Hỏi về bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng lao động

 Tóm tắt câu hỏi:
          Tôi có một người em ký kết hợp đồng lao động và đi lao động ở Đài Loan. Sau một thời gian, gia đình nhận được thông báo của Công ty nơi cô ấy làm việc là cô ấy đã bỏ trốn khỏi nơi làm việc của mình.

Gia đình cũng không biết rõ lý do tại sao cô ấy lại bỏ trốn như vậy. Luật sư cho hỏi cô ấy có bị xử phạt gì không và quy định như thế nào trong Luật? Cảm ơn.

  Luật sư tư vấn: 
  Về câu hỏi của bạn, Luật sư xin được tư vấn như sau: 
1. Về hành vi bỏ trốn của em bạn:
Điều 7 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài quy định về các hành vi bị cấm như sau:
“1. Cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi là Giấy phép) cho doanh nghiệp không đủ điều kiện theo quy định của Luật này.
2. Sử dụng Giấy phép của doanh nghiệp khác hoặc cho người khác sử dụng Giấy phép của mình để hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
3. Giao nhiệm vụ điều hành hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cho người đã quản lý doanh nghiệp bị thu hồi Giấy phép hoặc người đang trong thời gian bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên do vi phạm quy định của pháp luật về người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
4. Đi làm việc hoặc đưa người lao động đi làm việc ở khu vực, ngành, nghề và công việc bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc không được nước tiếp nhận người lao động cho phép.
5. Lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài.
6. Lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức tuyển chọn, đào tạo, thu tiền của người lao động.
7. Tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc khi chưa đăng ký hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật này.
8. Sau khi nhập cảnh không đến nơi làm việc hoặc bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng.
9. Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn Hợp đồng lao động.
10. Lôi kéo, dụ dỗ, lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái quy định của pháp luật.
11. Gây phiền hà, cản trở, sách nhiễu người lao động hoặc doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.”
Như vậy, hành vi của em bạn bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc của mình là một trong các hành vi bị cấm đối với người lao động Việt Nam khi đi làm việc ở nước ngoài và trái với quy định của pháp luật.
2. Về mức độ xử phạt đối với hành vi của em bạn:
Điều 35 Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định:
“2. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn Hợp đồng lao động, hết hạn cư trú;
b) Bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng;
c) Sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng;
d) Lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc, lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái quy định.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc về nước đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này;
b) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 02 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này;
c) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 05 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm c và Điểm d Khoản 2 Điều này.”
Như vậy, đối với hành vi của em bạn, em bạn sẽ phải:
  • Bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền từ 80 triệu đến 100 triệu.
  • Buộc phải về nước, rời khỏi nước đang lao động.
  • Không được đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn hai năm.

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

Hỏi về quy trình thanh toán chế độ bảo hiểm xã hội ốm đau

 Tóm tắt câu hỏi:      
         Xin chào , tôi có một vấn đề cần tư vấn như sau: Khi tôi bị đau ốm nằm ở bệnh viện, tôi xin nghỉ làm việc ở công ty từ ngày 27/6 cho đến ngày 4/7/2013. Tôi được hưởng bảo hiểm xã hội, tuy nhiên, tôi đã nộp giấy ra viện và giấy nghỉ ốm theo đúng quy định của pháp luật nhưng đến bây giờ là ngày 10/10/2013 mà tôi vẫn chưa thấy công ty giải quyết thanh toán tiền bảo hiểm cho tôi. Xin hỏi về quy trình thanh toán bảo hiểm xã hội khi nghỉ ốm như thế nào?

Luật sư tư vấn:
Về câu hỏi của bạn, luật sư xin tư vấn như sau:
Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn bị ốm phải vào viện điều trị và bạn đủ điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm xã hội ốm đau theo quy định của pháp luật. Bạn đã nộp giấy ra viện và giấy nghỉ ốm theo đúng quy định của pháp luật nhưng đến bây giờ là ngày 10/10/2013, bạn vẫn chưa thấy công ty giải quyết thanh toán tiền bảo hiểm. Như vậy, hành vi của công ty bạn là không đúng với quy định của pháp luật.
Điều 117 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định:
“1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ người lao động quy định tại Điều 112 và Điều 113 của Luật này, người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động.
2. Hằng quý, người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ của những người lao động đã được giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại các điều 112, 113 và 116 của Luật này.
3. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm quyết toán trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không quyết toán thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.”
Hồ sơ hưởng chế độ ốm đau bao gồm:
- Đối với bản thân người lao động:
+ Sổ bảo hiểm xã hội.
+ Giấy xác nhận nghỉ ốm đối với người lao động điều trị ngoại trú, giấy ra viện đối với người lao động điều trị nội trú tại cơ sở y tế, giấy ra viện hoặc phiếu hội chẩn của bệnh viện đối với người lao động mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày.
- Đối với người sử dụng lao động:
+ Xác nhận của người sử dụng lao động về điều kiện làm việc đối với người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên.
+ Giấy xác nhận của người sử dụng lao động về thời gian nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau, kèm theo giấy khám bệnh của con đối với người lao động nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau.
+ Danh sách người nghỉ ốm và người nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau do người sử dụng lao động lập.
Như vậy, trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ của bạn về chế độ bảo hiểm ốm đau, công ty của bạn phải có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau cho bạn.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn nên:
  • Kiểm tra và làm việc lại với cơ quan tiếp nhận hồ sơ của bạn, xem xét hồ sơ đã hợp lệ hay chưa.
  • Trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì bạn bổ sung giấy tờ và hoàn thiện lại.
  • Trong trường hợp hồ sơ đã hợp lệ thì bạn làm đơn yêu cầu công ty giải quyết vấn đề trên theo đúng thời hạn quy định của pháp luật.

Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

Tham gia bảo hiểm xã hội khi giao kết nhiều hợp đồng lao động

Tóm tắt câu hỏi:
Tôi tham gia làm việc ở 02 Cty đều ký kết Hợp đồng lao động không thời hạn:
- Công ty 1: Tôi ký HĐLĐ được 14 tháng và Cty đã đóng BHXH, BHYT, BHTN cho tôi đầy đủ.

- Công ty 2: Mặc dù đã ký kết HĐLĐ với tôi được 12 tháng nhưng lại không đóng BHXH, BHYT, BHTN cho tôi, mặc dù tôi đã yêu cầu phía công ty nhiều lần nhưng vẫn không được giải quyết.

Với trường hợp như trên thì tôi nên làm gì để đòi phía Công ty 2 phải tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho tôi. Và nếu Công ty 2 làm như vậy có vi phạm Bộ luật lao động hoặc Luật BHXH không ạ? Kính mong Công ty Luật Rubiclaw giải đáp giúp tôi trường hợp trên. Tôi mong sớm nhận được câu trả lời từ Công ty Luật Rubiclaw. Xin chân thành cảm ơn!
Luật sư tư vấn:
Vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:
Điều 21 Bộ luật lao động 2012 quy định về trường hợp người lao động giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động như sau:
“Người lao động có thể giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết.
Trong trường hợp giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động được thực hiện theo quy định của Chính phủ.”
Theo điểm 1.3 khoản 1 Điều 53 Quyết định 1111/QĐ-BHXH: “Người lao động đồng thời có từ 2 HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc trở lên với nhiều đơn vị khác nhau thì đóng BHXH, BHYT, BHTN theo HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc có mức tiền lương, tiền công cao nhất hoặc HĐLĐ, hợp đồng làm việc có thời gian dài nhất”.
Theo quy định trên thì bạn đươc đóng BHXH ở công ty ký kết hợp đồng lao động với bạn có mức tiền lương cao hơn. Khoản 3, điều 186 Bộ luật lao động 2012 quy định: Đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì ngoài việc trả lương theo công việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và tiền nghỉ phép hằng năm theo quy định.
Như vậy khoản tiền đáng lẽ được trích ra để chi trả Bảo hiểm xã hội cho bạn sẽ được công ty 2 trả luôn cùng với kỳ trả lương của bạn. Hợp đồng thứ 2 của bạn không thuộc đối tượng phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật lao động và pháp luật bảo hiểm xã hội nên công ty 2 không có nghĩa vụ phải làm hồ sơ để đóng Bảo hiểm xã hội cho bạn.

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

Sử dụng nhãn hiệu hàng hóa nước ngoài để kinh doanh

Tóm tắt câu hỏi:
Em hiện tại bắt đầu kinh doanh với sản phẩm hiện đã có nhiều trên thế giới rồi. Em muốn sử dụng hình ảnh của các công ty ở Mỹ để quảng bá cho sản phẩm của mình thì như thế có phải là vi phạm bản quyền không ạ? Họ không phải là người bán hàng của em. Chỉ là có cùng 1 loại sản phẩm giống nhau thôi ạ. Có luật nào quy định về điều này ko anh chị? Và nếu vi phạm em sẽ bị phạt như thế nào ạ? Cảm ơn anh/ chị rất nhiều!

Luật sư tư vấn:
Vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:
Về nguyên tắc, một nhãn hiệu hàng hóa chỉ được bảo hộ khi chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền tiến hành các thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu nhãn hiệu sản phẩm được đăng ký bảo hộ ở quốc gia nào thì cũng chỉ có hiệu lực bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó, trừ khi quốc gia tham gia các Công ước quốc tế. Trong trường hợp này, cần phải xác định nhãn hiệu hàng hóa của sản phẩm trên đã được công ty của Mỹ đăng ký bảo hộ hay chưa. Chúng tôi đặt ra hai giải thiết sau:
  • Thứ nhất, nếu nhãn hiệu sản phẩm chưa được đăng ký bảo hộ tại Mỹ hoặc tại bất cứ quốc gia nào khác, bạn đương nhiên có quyền sử dụng mà không phải xin phép và cũng như không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào.
  • Thứ hai, nếu nhãn hiệu hàng hóa trên đã được công ty của Mỹ đăng ký bảo hộ và được cấp văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp, cần phải xem xét việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Mỹ có đồng thời được bảo hộ ở Việt Nam hay không. Trước đây, nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ ở Mỹ chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ nước Mỹ. Tuy nhiên, khi Việt Nam gia nhập Công ước Pari ngày 8/3/1949, Việt Nam chính thức chịu sự điều chỉnh của Công ước này. Công ước Pari có khoảng 170 nước thành viên, cả Việt Nam và Hoa Kỳ (Mỹ) đều là thành viên của công ước này.
Công ước Paris quy định rằng đối với việc bảo hộ sở hữu công nghiệp, mỗi nước thành viên phải dành cho công dân của các nước thành viên khác sự bảo hộ tương tự như sự bảo hộ dành cho công dân của mình. Công ước Paris không quy định các điều kiện nộp đơn và đăng ký nhãn hiệu mà dành việc này cho luật quốc gia của các nước thành viên.  Một khi nhãn hiệu được đăng ký tại một nước thành viên, đăng ký đó sẽ độc lập với đăng ký có thể có tại bất cứ nước thành viên nào khác, kể cả nước xuất xứ. Do đó, nếu đăng ký nhãn hiệu bị mất hiệu lực tại một nước thành viên thì cũng sẽ không ảnh hưởng đến hiệu lực của đăng ký nhãn hiệu đó tại các nước thành viên khác.
Như vậy, nếu bạn tùy ý sử dụng nhãn hiệu hàng hóa các công ty của Mỹ cũng tương tự như việc xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của cá nhân, tổ chức được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam. Bạn có thể bị xử lý theo các biện pháp sau:
- Biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự. Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp dân sự, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp dân sự tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 211 của Luật Sở hữu trí tuệ, theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi xâm phạm hoặc do cơ quan có thẩm quyền chủ động phát hiện.
Hình thức, mức phạt, thẩm quyền, thủ tục xử phạt hành vi xâm phạm và các biện pháp khắc phục hậu quả tuân theo quy định của Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp.
         - Biện pháp hình sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm trong trường hợp hành vi đó có yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại điều 171 của Bộ luật Hình sự. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp hình sự tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2014

Có phải hoàn vốn kinh doanh cho người góp vốn khi làm ăn thua lỗ?

Tóm tắt câu hỏi:
Xin chào luật sư! Tôi có một việc cần hỏi ý kiến luật sư như sau, mong luật sư bớt chút thời gian quý giá của mình giúp đỡ tôi giải quyết vấn đề. Tôi rất biết ơn: Vừa qua, với ý định mở sân patin, tôi có mời một người bạn góp vốn, số vốn là 20 triệu đồng, tôi bỏ ra 10 triệu đồng để đặt tiền cọc thuê sân. Người đứng ra viết giấy biên nhận tiền của bạn tôi đứng tên tôi, người viết giấy đặt cọc là vợ tôi.

Nội dung giấy biên nhận như sau "...(bỏ qua phần họ tên) Hôm nay ngày 22 tháng 4 năm 2013 tôi có nhận của anh Lê Duy Thiện 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng chẵn) để hợp tác kinh doanh. Trong thời gian kinh doanh 2 bên sẽ cùng nhau bàn bạc sử dụng số vốn trên. Trong trường hợp anh Thiện muốn rút vốn kinh doanh thì phải thông báo trước trong vòng 06 tháng."
Sau đó vì thủ tục thuê sân quá lâu, tôi và Thiện quyết định sẽ không thuê sân nữa. Khi đó đơn vị thuê sân cũng không trả lại tiền đặt cọc nữa. Như vậy số vốn đặt cọc ban đầu là 30 triệu không được hoàn trả. Hiện tại Anh Thiện cho rằng tôi phải có trách nhiệm bồi hoàn đầy đủ cho anh số tiền 20 triệu đó. Vậy theo Luật sư tôi phải giải quyết như thế nào là đúng ạ? Kính mong luật sư giúp đỡ. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Luật sư tư vấn:
Vấn đề anh hỏi chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:
Thứ nhất, chúng tôi xác định việc anh đặt trước 30.000.000 đồng cho đơn vị cho thuê sân để thuê sân patin là giao dịch đặt cọc để bảo đảm việc giao kết và thực hiện hợp đồng thuê tài sản. Do sau đó các anh lại không thuê sân nữa nên đã vi phạm nghĩa vụ giao kết hợp đồng.
Điều 358 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:
Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Như vậy nếu giữa bạn và đơn vị thuê sân không có thỏa thuận khác thì việc đơn vi thuê sân không trả lại số tiền 30.000.000 cho bạn là không vi phạm quy định của pháp luật.
Vấn đề cần phải xác định là khi giao kết giao dịch đặt cọc, bên đặt cọc chỉ ghi tên của anh hay ghi cả tên của anh Thiện. Nếu chỉ ghi tên anh thì rất khó để xác định việc đặt cọc để thuê sân có phải là sự bàn bạc, thống nhất giữa hai anh hay chỉ là ý chí đơn phương của mình anh. Như vậy, nếu muốn rút lại số vốn kinh doanh, anh Thiện chỉ cần báo trước 06 tháng là hoàn toàn không vi phạm sự thỏa thuận ban đầu của hai người.
Vì vậy, trong trường hợp này anh phải chứng minh được anh và anh Thiện đã có sự bàn bạc thống nhất khi quyết định thuê sân. Nếu chứng minh được, hai anh phải chịu trách nhiệm trên tỷ lệ phần vốn góp của mỗi người, anh không có nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ số tiền trên cho anh Thiện.

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

Hỏi về thủ tục đăng ký website thương mại điện tử

Tóm tắt câu hỏi:       
Luật sư cho tôi hỏi về vấn đề luật giấy phép thương mại điện tử nhé! Được biết là với 1 trang thương mại điện tử thì cần đăng ký giấy phép thông qua sự cho phép của Bộ Công Thương nhưng không hiểu rõ văn bản này quy định như thế nào và hiện tại tôi muốn lập 1 trang thương mại điện tử.

Tuy nhiên với tên miền quốc tế "tenmien.com" thì tôi có cần xin giấy phép không? Và giả sử với 2 trường hợp là đặt website bên nước ngoài và đặt website trong nước thì quy định như thế nào? Mong luật sư giải đáp hộ. Cảm ơn!
Luật sư tư vấn:
Vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:
Để có thể thiết lập website thương mại điện tử, bạn phải thoả mãn điều kiện của cá nhân được phép thành lập và quản lý website thương mại điện tử quy định tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử. Do bạn không nói cụ thể bạn muốn lập trang thương mại điện tử để bán hàng hay cung cấp dịch vụ thương mại điện tử nên chúng tôi xin đặt ra hai trường hợp sau:
Nếu bạn muốn lập trang thương mại điện tử bán hàng thì bạn phải là cá nhân đã được cấp mã số thuế cá nhân. Bạn có thể tự lập một trang web hoặc tìm đến các công ty chuyên cung cấp dịch vụ lập web chuyên nghiệp.
Sau khi thiết lập website thương mại điện tử bán hàng, bạn phải làm thủ tục thông báo với Bộ Công thương theo quy định tại khoản 2 điều 4 Thông tư 12/2013/TT-BCT thông qua Công cụ thông báo trực tuyến trên Cổng thông tin quản lý hoạt động thương mại điện tử tại địa chỉ www.online.gov.vn. Trình tự thực hiện như sau:
Bước 1: Đăng ký tài khoản đăng nhập hệ thống bằng việc cung cấp những thông tin sau:
- Tên;
- Mã số thuế thu nhập cá nhân;
- Lĩnh vực kinh doanh/hoạt động;
- Địa chỉ thường trú;
- Các thông tin liên hệ, bao gồm số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử.
Bước 2: Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, bạn sẽ nhận kết quả từ Bộ Công Thương qua địa chỉ thư điện tử đã đăng ký về một trong các nội dung sau:
- Nếu thông tin đăng ký tài khoản đầy đủ, bạn được cấp một tài khoản đăng nhập hệ thống và tiến hành tiếp Bước 3;
- Nếu đăng ký tài khoản bị từ chối hoặc yêu cầu bổ sung, bạn phải tiến hành đăng ký lại hoặc bổ sung thông tin theo yêu cầu.
Bước 3: Sau khi được cấp tài khoản đăng nhập hệ thống, bạn tiến hành đăng nhập, chọn chức năng Thông báo website thương mại điện tử bán hàng và tiến hành khai báo thông tin theo mẫu.
Bước 4: Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, bạn sẽ nhận thông tin phản hồi của Bộ Công Thương qua địa chỉ thư điện tử đã đăng ký về một trong các nội dung sau:
- Xác nhận thông tin khai báo đầy đủ, hợp lệ;
- Cho biết thông tin khai báo chưa đầy đủ hoặc không hợp lệ. Khi đó, bạn phải quay về Bước 3 để khai báo lại hoặc bổ sung các thông tin theo yêu cầu.
Nếu bạn muốn tạo lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử, bạn cần phải là thương nhân, nghĩa là cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên, liên tục và có đăng ký kinh doanh. Thủ tục thông báo website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử được quy định tại khoản 2, điều 8 Thông tư 12/2013/TT-BTC. Theo đó, bạn cần truy cập vào Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử tại địa chỉ www.online.gov.vn và thực hiện các bước sau:
Bước 1: Đăng ký tài khoản đăng nhập hệ thống bằng việc cung cấp những thông tin sau:
- Tên
- Số đăng ký kinh doanh
- Lĩnh vực kinh doanh/hoạt động;
- Địa chỉ trụ sở
- Các thông tin liên hệ, bao gồm số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử.
Bước 2: Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, bạn nhận kết quả từ Bộ Công Thương qua địa chỉ thư điện tử đã đăng ký về một trong các nội dung sau:
- Nếu thông tin đăng ký tài khoản đầy đủ, bạn được cấp một tài khoản đăng nhập hệ thống và tiến hành tiếp Bước 3;
- Nếu đăng ký tài khoản bị từ chối hoặc yêu cầu bổ sung thông tin, bạn phải tiến hành đăng ký lại hoặc bổ sung thông tin theo yêu cầu.
Bước 3: Sau khi được cấp tài khoản đăng nhập hệ thống, bạnphải tiến hành đăng nhập, chọn chức năng Đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử, tiến hành khai báo thông tin theo mẫu và đính kèm hồ sơ đăng ký theo quy định.
Bước 4: Trong thời hạn 07 (bảy) ngày làm việc bạn nhận thông tin phản hồi của Bộ Công Thương qua địa chỉ thư điện tử đã đăng ký về một trong các nội dung sau:
- Xác nhận hồ sơ đăng ký đầy đủ, hợp lệ và yêu cầu thực hiện tiếp Bước 5;
- Thông báo hồ sơ đăng ký không hợp lệ hoặc yêu cầu bổ sung thông tin. Khi đó bạn quay về Bước 3 để khai báo lại hoặc bổ sung các thông tin, hồ sơ theo yêu cầu.
Bước 5: Sau khi nhận được thông báo xác nhận hồ sơ đầy đủ vàhợp lệ, bạn gửi về Bộ Công Thương (Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin) bộ hồ sơ đăng ký hoàn chỉnh (bản giấy) theo quy định.
Hồ sơ (bản giấy) và hồ sơ đính kèm theo bước 3 bao gồm:
1. Đơn đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (theo Mẫu TMĐT-1)
2. Bản sao có chứng thực giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy phép đầu tư (đối với thương nhân).
3. Đề án cung cấp dịch vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 54 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.
4. Quy chế quản lý hoạt động của website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 55 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.
5. Mẫu hợp đồng dịch vụ hoặc thỏa thuận hợp tác giữa thương nhân, tổ chức sở hữu website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử với thương nhân, tổ chức, cá nhân tham gia mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên website đó.
6. Các điều kiện giao dịch chung áp dụng cho hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên website (nếu có).
Pháp luật không có quy định về việc đặt website với các tên miền khác nhau có thủ tục khác nhau. Điều này chỉ có ý nghĩa trong tính phí dịch vụ khi bạn tìm đến các công ty cung cấp dịch vụ tạo website. Tuy nhiên với tên miền quốc tế, phạm vi tìm kiếm sẽ rộng hơn nhưng khả năng bị đánh cắp website cũng sẽ lớn hơn rất nhiều.
------------------------------
Chú ý: Bài viết trên có trích dẫn một số quan điểm pháp lý, các quy định của pháp luật, ý kiến tư vấn pháp lý của các chuyên gia, luật sư và chuyên viên tư vấn. Tuy nhiên tất cả các ý kiến và quy định trích dẫn chỉ mang tính tham khảo. Các văn bản pháp luật được dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được thay thế tại thời điểm tham khảo bài viết. Bạn đọc tham khảo bài viết, người truy cập, khách hàng…không được coi đó là ý kiến pháp lý chính thức để vận dụng vào các trường hợp cụ thể. Để có được ý kiến pháp lý cho từng trường hợp một các chính xác nhất, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH
715 Trần Hưng Đạo - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định

 Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
 Trân trọng./.
Ông: Huỳnh Văn Chưa - Giám đốc Trung tâm


Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

Hỏi về kiện đòi tiền lương sau khi thôi việc

Tóm tắt câu hỏi:
Xin chào RUBICLAW. Quý Công ty tư vấn giúp em vấn đề về đòi nợ tiền lương cty không thanh toán sau thôi việc của em. Tình trạng của em như sau: Trong thời gian làm việc cty không đóng bảo hiểm xã hội cho em.

Em bắt đầu thôi việc cty từ ngày 10/3/13 để tim kiếm công việc mới (giám đốc cty cũ đồng ý cho em thôi việc nhưng chưa ký đơn thôi việc của em), sau khi thôi việc em đã hỗ trợ cty trong việc bàn giao công việc cho người sau như yêu cầu công ty và đã hoàn thành nhưng cho đến hôm nay là 15/7/13 vẫn chưa thanh toán phần lương tháng 2 và 3 của 2013 cho em. Công ty cũ cứ đưa hết lý do này nọ và hẹn hết lần này lần khác rồi giao cho phó giám đốc giải quyết nhưng phó giám đốc và kế toán trưởng không giải quyết được, vì em còn công việc của em nhưng khi em thu sếp để lên giải quyết thì luôn cáo bận rồi đủ thứ lý do và kéo dài thời gian và ảnh hưởng đến công việc hiện tại của em rất nhiều. Quý Công ty tư vấn giúp em làm cách nào để đòi được lương ( trước em cũng có mấy người bị như em và nản bỏ cuộc ) và nếu không giải quyết được thì em khởi kiện như thế nào và mẫu form khởi kiện ra sao. Quý Công ty giúp hộ em vì số tiền tháng 2 và 3 còn lại của em cũng nhiều. Rất mong nhận được sự giúp đỡ từ Quý Công ty. Xin Quý Công ty tư vấn giúp em.
Luật sư tư vấn:
Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.
3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”
Trường hợp của bạn là đã thôi việc với Công ty cũ, nhưng Công ty chưa thanh toán các khoản nợ lương cho bạn. Như vậy, công ty cũ của bạn đã vi phạm pháp luật lao động về quyền của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.
Để bảo vệ quyền và lợi ích của bạn, bạn nên tiến hành những công việc sau:
1. Gửi đơn tới Công ty cũ của bạn, yêu cầu công ty thanh toán các khoản nợ lương cho bạn. Trong đơn yêu cầu ghi rõ thời hạn bao giờ Công ty phải thanh toán khoản nợ lương đó và nếu công ty không thanh toán thì bạn sẽ gửi đơn khởi kiện tới Tòa án.
2. Nếu sau khảng thời gian bạn gửi yêu cầu và hết thời hạn mà công ty cũ vẫn chưa thanh toán cho bạn về khoản nợ lương đó thì bạn sẽ gửi đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân cấp quận huyện thành phố thuộc tỉnh nơi Công ty đóng trụ sở.
Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi năm 2011 quy định:
“Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;
b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;
c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này.”
3. Hồ sơ khởi kiện bao gồm:
- Đơn khởi kiện (Mẫu kèm theo);
- Giấy chứng minh nhân dân (Bản sao chứng thực);
- Sổ hộ khẩu gia đình (Bản sao chứng thực);
- Hợp đồng lao động đã ký với công ty (Bản sao);
- Bản thanh lý hợp đồng với Công ty (Bản sao)
- Các tài liệu liên quan đến bảng lương và các lần nhận lương (Bản sao)
4. Thủ tục nộp đơn khởi kiện
-       Nộp đơn khởi kiện trực tiếp tới Tòa hoặc qua bưu điện đến Tòa án cấp huyện nơi công ty đóng trụ sở.
-       Tòa án xem xét hồ sơ có hợp lệ và thông báo nộp tiền tạm ứng án phí.
-       Nộp tiền tạm ứng án phí và biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Tòa án sẽ thụ lý vụ án.
-       Thời gian chuẩn bị xét xử là hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.
-       Thời gian mở phiên tòa là một tháng kể từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.