Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

Hỏi đáp về Hôn nhân - Gia đình

....Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi được cha mẹ chồng cho một miếng đất để xây nhà và chúng tôi đã hoàn tất thủ tục sang tên. Nay khi ly hôn, nhà đất đó sẽ được phân chia thế nào?...
1/ Thay đổi người nuôi con?
Năm 2008, vợ chồng tôi ly hôn và toà tuyên giao cho chồng tôi nuôi dưỡng. Nhưng sau đó chồng cũ của tôi chăm sóc con không chu đáo. Tôi có thể giành lại quyền nuôi con được không?
Trả lời:
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặc cho con và phải tính đến nguyện vọng của con nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên. Nếu chứng minh được việc chồng bà bỏ bê, không chăm sóc con chu đáo thì bà có thể đề nghị toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con (Đ93 Luật hôn nhân gia đình)
2/Đơn phương xin ly hôn?
Vợ chồng tôi đang đứng tên hai căn nhà đều của mẹ chồng tôi cho. Dù có bố đã mấy năm nay nhưng chồng tôi không chịu ký đơn ly hôn mà còn hăm he nếu không nộp đơn thì anh ấy sẽ không chia tài sản cho tôi. Vậy tôi có thể đơn phương xin ly hôn và có được chia tài sản hay không?
Trả lời:
Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại toà án không thành thì toà án xem xét, giải quyết cho ly hôn. Tài sản chung của vợ, chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi. Bà có thể đơn phương gi73 đơn đến toà án nhân dân cấp huyện để xin ly hôn và yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định nêu trên.(Đ91 K1, Đ27, K2a, Đ95 LHNGD)
3/ Cấp dưỡng nuôi con 1 lần?
Chồng tôi nộp đơn xin ly hôn tôi và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 500.000đ/ tháng. Tôi có thể yêu cầu anh ấy cấp dưỡng một lần cho đến khi con được 18 tuổi hay không?
Trả lời:
Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, quý, nửa năm, hằng năm hoặc 1 lần. cả bên có thể thoả thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng nếu không thoả thuận được thì yêu cầu toà án giải quyết.
Bà có thể thoả thuận với cha của trẻ về việc cấp dưỡng nuôi con một lần. nếu anh ấy không đồng ý, bà có thể yêu cầu TAND cấp huyện xem xét, giải quyết.(Đ 54 LHN&GĐ).
4/ Chìa sản chung hay riêng?
Trước khi lập gia đình, tôi được thừa kế 3125m2 đất. sau khi kết hôn, tôi đã bán hết số đất đó để lấy tiền mua nhà ở. Nay vợ chồng tôi ly hôn thì tôi có phải chia căn nhà trên cho vợ tôi hay không?
Trả lời:
Tài sản chung của vợ, chồng gồm: tài sản do vợ, chồng tạo ra thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập.
Do được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên căn nhà trên là tài sản chung của vợ và chồng,vợ ông phải được phần chia nhà. Tuy nhiên ông có thể trình bày và chứng minh với toà công sức đóng góp vào căn nhà để toà xem xét, quyết định cụ thể(K1 Đ27, K2a Đ95 LHNGĐ)
5/ Chia tài sản chung vợ chồng?
Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi được cha mẹ chồng cho một miếng đất để xây nhà và chúng tôi đã hoàn tất thủ tục sang tên. Nay khi ly hôn, nhà đất đó sẽ được phân chia thế nào?
Trả lời:
Tài sản chung của vợ chồng gồm: tài sản do vợ, chồng tạo ra; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung. Như vậy nhà đất trên là tài sản chung của vợ chồng bà.Khi ly hôn, ông bà có thể thoả thuận việc chia tài sản đó theo nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi. Trường hợp không thoả thuận được thì các bên có thể yêu cầu toà án giải quyết.( Khoản 1 điều 27, Đ95 Luật hôn nhân gia đình)
6/Chia lợi nhuận từ tài sản riêng?
Vợ, chồng tôi đã thoả thuận chia tài sản chung. Nếu tôi lấy tài sản riêng của mình hùn vốn làm ăn thì khi ly hôn vợ tôi có được chia lợi nhuận từ tài sản riêng đó hay không?
Trả lời:
Do vợ chồng ông đã thoả thuận chia tài sản chung trong thời ký hôn nhân nên tài sản được chia là tài sản riêng của mỗi bên. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người. Khi ly hôn, vợ ông sẽ không được chia lợi nhuận từ việc kinh doanh bằng tài sản riêng của ông (ngoại trừ ông đồng ý chia).(Đ29,30 LHN&GĐ)
7/ Hạn chế quyền thăm con?
Tôi đã nộp đơn xin ly hôn và xin nuôi con gái hai tuổi mà không cần chồng cấp dưỡng nuôi con. Không rõ sau khi ly hôn, tôi có thể yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm con của người chồng cũ hay không?
Trả lời:
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Bà không thể yêu cầu toà án hạn chế quyền thăm nom con của cha đứa bé, ngoài trừ người đó lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.(Đ 94 LHN và GĐ)
8/ Thay đổi người trực tiếp nuôi con?
Án toà xử cho vợ chồng tôi ly hôn và chồng tôi được nuôi đứa con gái 4 tuổi. Sau đó, chồng tôi lấy vợ khác và có thêm một đứa con. Nay tôi đã có công việc ổn định nên muốn nhận con về nuôi nhưng chồng tôi không đồng ý. Tôi phải làm sao để được quyền nuôi con?
Trả lời:
 Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên toà án có thể quyết định người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và phải tính đến nguyện vọng của con nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên.
Muốn được trực tiếp nuôi con, bà có thể gởi đơn yêu cầu TAND cấp huyện nơi cư trú của người chồng cũ xem xét, giải quyết.(Điều 93 LHN&GĐ)
9/ Kiện chia tài sản sau ly hôn
Toà xử cho vợ chồng tôi ly hôn và tự thoả thuận về tài sản. Nay anh ấy giành hết tài sản chung của vợ chồng. Tôi có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung hay không?
Trả lời:
Việc chia tài sản sau khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hũu của bên đó. Tài sản chung của vợ  chồng  về nguyên tắc chia làm đôi và được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị.
Bà có thể nộp đơn khởi kiện để được TAND huyện giải quyết. (Đ 95 LHN&GĐ)
10/ Có phải chia đôi tài sản?
Chị tôi chưa lập gia đình, hiện tại chị tôi có một căn nhà do chị tôi đứng tên chủ quyền. nếu chị tôi kết hôn và sau này chị bán căn nhà thì tài sản có bị chia đôi cho chồng chị ấy không?
Trả lời:
Tài sản riêng của vợ chồng gồm tài sản của mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân…Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Như vậy, căn nhà mà chị ông đang sở hữu sẽ là tài sản riêng của chị ấy và khi thực hiện quyền chuyển nhượng căn nhà này thì không phải chia đôi với người chồng (Điều 32 Luật HNGĐ).
11/Có được quyền nuôi con?
Vợ chồng tôi có một con trai 12 tuổi. Mới đây chồng tôi nộp đơn xin ly hôn ra toà. Chồng tôi giành quyền nuôi con nhưng con tôi có ý muốn theo tôi. Vậy Toà án có giải quyết cho tôi được quyền nuôi con không?
Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; đối với thoả thuận được thì toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Theo đó nguyện vọng của con là điều kiện để toà án xem xét, đánh giá, ra quyết định ai là người nuôi con nhưng phải trên cơ sở xem xét một cách toàn diện nhằm bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con bà.(Khoản 2 Đ 92 Luật HNGĐ).
12/ 17 Tuổi có được nhận làm con nuôi
Vợ chồng tôi có ý định nhận nuôi một đứa cháu họ 17 tuổi làm con nuôi thì có được không?
Trả lời:
Người được nhận làm con nuôi phải từ 15 tuổi trở xuống. người trên 15 tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu, cô đơn
Nếu người cháu họ (17 tuổi) của vợ chồng bà đáp ứng được điều kiện trên thì cháu có thể được nhận làm con nuôi. (Đ 68 LHN&GĐ).
13/ Tội loạn luân
Pháp luật hiện hành của nước ta quy định như thế nào về tội loạn luân?
Trả lời:
Người nào giao cấu với người cùng dòng máu về trực hệ (cha mẹ đối với con; ông, bà đối với cháu nội và cháu ngoại) với anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha thì có thể bị xử lý hình sự về tội loạn luân với mức phạt từ sáu tháng đến ba năm tù. (Đ 150 BLHS, k12 Đ8 LHN & GĐ).
14/ Con nuôi có được thừa kế
Từ lúc 10 tuổi, mẹ tôi đã được ông bà ngoại nhận làm con nuôi nhưng không có giấy tờ gì về việc này. Khi ông bà ngoại nuôi qua đời không để lại di chúc, những người thừa kế đã tự thoả thuận phân chia di sản của ông bà mà không chia cho mẹ tôi. Vậy mẹ tôi có được hưởng thừa kế hay không?
Trả lời
Việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào sổ hộ tịch. Nếu việc được nhận làm con nuôi của mẹ bà không được thực hiện đúng theo quy định này thì bà ấy không được hưởng thừa kế phần di sản của người chết để lại (Đ 71 LHN$GĐ; Đ 676 BLDS).
15/ Chấm dứt việc nuôi con nuôi
Vợ chồng tôi nhận nuôi con nuôi cách đất đã mấy chục năm. Nay vợ chồng tôi đã già nhưng con nuôi tôi lại hỗn láo, ngược đãi cha mẹ. vậy vợ chồng tôi có quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi hay không?
Trả lời:
Con nuôi đã thành niên, cha, mẹ đẻ, người giám hộ của con nuôi, cha, mẹ nuôi theo quy định của pháp luật về TTDS có quyền tự mình yêu cầu toà án hoặc đề nghị VKS yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp sau đây: cha, mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi; con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm của cha, mẹ nuôi hoặc ngược đãi cha, mẹ nuôi…nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên, vợ chồng ông có quyền nộp đơn yêu cầu TAND cấp huỵện chấm dứt việc nuôi con nuôi. (Đ76, 77 LHN&GD)
16/ Quản lý tài sản riêng của con
Trước khi mất, cha mẹ tôi có để lại di chúc cho phép con tôi được sở hữu một căn nhà của ông bà. Do cháu chỉ mới 13 tuổi nên vợ chồng tôi muốn quản lý căn nhà thì có được không?
Trả lời:
Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi do cha mẹ quản lý. Cha mẹ cũng có thể uỷ quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Trong trường hợp người để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó thì cha mẹ không được quyền quản lý tài sản riêng của con (k 2,3,Đ45 LHN&GĐ) 
17/ Chia tài sản chung của vợ chồng
Vợ chồng tôi có sở hữu chung một căn nhà rộng 41 m 2. Khi ly hôn, tôi có thể trả tiền cho chồng để lấy nhà hay không?
Trả lời:
Trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn được chia theo quy định của pháp luật; nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà bên kia được hưởng. bà có thể thoả thuận với người chồng cách chia nêu trong thư. Nếu không thể thoả thuận được bà  có thể yêu cầu toà án cấp huyện xem xét giải quyết (k1 Đ 95 Đ98 LHN&GĐ)
18/ Kiện chia tài sản chung
Tôi lập gia đình được 8 năm và có 2 con. Nay chồng tôi đòi chia tài sản chung của vợ chồng nhưng tôi lại muốn giữ nguyên số tài sản đó để nuôi con. Vậy chồng tôi có quyền kiện ra toà đòi chia tài sản chung hay không?
Trả lời:
Khi hôn nhân còn tồn tại, trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung. Việc chia tài sản chung phải thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu  cầu toà án giải quyết. nếu vợ chồng bà không thoả thuận được việc chia tài sản chung thì chồng bà có quyền yêu cầu toà án giải quyết (k1 Đ 29 LHN&GĐ)
19/ Hạn chế quyền thăm nom con
Tôi được toà án cho ly hôn và được quyền nuôi con 2 tuổi. Tuy nhiên khi đến thăm con, chồng cũ của tôi hay quậy phá, gây xáo trộn đời sống sinh hoạt của mẹ con tôi. Tôi phải làm sao để hạn chế quyền thăm con của anh ấy?
Trả lời:
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Bà có thể khởi kiện yêu cầu toà án hạn chế quyền thăm nom con của người chồng cũ (Đ 94 LHN&GĐ; K 4 Đ 28 BLTTDS) 
20/ Sống chung không đăng ký kết hôn
Tôi và C tổ chức lễ cưới vào năm 2002 nhưng không đăng ký kết hôn và có một con  chung. Hiện C muốn bỏ rơi tôi để đến với một người khác. Xin hỏi tôi và C có được pháp luật công nhận là vợ chồng không?
Trả lời:
Việc kết hôn phải được đăng ký  và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức pháp luật quy định. Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì tòa án thụ lý  và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết như hậu quả pháp lý của việc huỷ kết hôn trái pháp luật (Đ 11, 17, 87 LHN&GĐ)
21/ Vợ mang thai có quyền ly hôn chồng
Khi tôi mang thai đứa con thứ hai thì chồng tôi nghi ngờ tôi không chung thuỷ và chúng tôi thường gây gổ mâu thuẫn. Tôi có thể xin ly hôn hay không?
Trả lời:
Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu toà án giải quyết việc ly hôn. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn. Như vậy khi đang mang thai bà vẫn có quyền nộp đơn xin ly hôn (Đ 85 LHN&GĐ)

            Pháp luật quy định giải quyết việc đăng ký kết hôn đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau.
Pháp luật quy định giải quyết việc đăng ký kết hôn đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà chưa đăng ký kết hôn như thế nào?
Theo quy định tại điểm b, mục 3 Nghị quyết số 35/2002/QH10 của Quốc hội và khoản 2, Điều 2 Nghị định số 77/2001/NĐ-CP thì nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003. Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.
Thẩm quyền và thủ tục đăng ký kết hôn đối với trường hợp này được quy định như sau:
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của một trong hai bên thực hiện việc đăng ký kết hôn.
Trong trường hợp cả hai bên không có hộ khẩu thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi một trong hai bên đăng ký tạm trú có thời hạn, thực hiện việc đăng ký kết hôn.
Khi đăng ký kết hôn, các bên chỉ cần làm Tờ khai đăng ký kết hôn và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế.
Trong Tờ khai đăng ký kết hôn, các bên ghi bổ sung ngày, tháng, năm xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế. Trong trường hợp vợ chồng không cùng xác định được ngày, tháng xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế, thì cách tính ngày, tháng như sau:
- Nếu xác định được tháng mà không xác định được ngày, thì lấy ngày 01 của tháng tiếp theo;
- Nếu xác định được năm mà không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo.
Trong trường hợp một trong hai bên kết hôn không có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, thì Tờ khai đăng ký kết hôn phải được cơ quan, đơn vị nơi đang công tác (đối với cán bộ, công chức, người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang) hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú có thời hạn xác nhận về tình trạng hôn nhân của người đó. Nếu cả hai bên cùng thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, thì không cần sự xác nhận nói trên.
Sau khi nhận Tờ khai đăng ký kết hôn, Uỷ ban nhân dân kiểm tra, nếu các bên đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, thì đăng ký kết hôn ngay. Khi có tình tiết chưa rõ là một trong hai bên hoặc cả hai bên có đủ điều kiện kết hôn hay không, thì Uỷ ban nhân dân yêu cầu họ làm giấy cam đoan và có xác nhận của ít nhất hai người làm chứng về nội dung cam đoan đó. Người làm chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của lời chứng.









0 nhận xét:

Đăng nhận xét