Hiển thị các bài đăng có nhãn Hôn nhân & Gia đình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hôn nhân & Gia đình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

Xử lý hành vi bạo hành gia đình

Tôi và chồng tôi đã li thân 2 năm nay. Tuy nhiên, thời gian gần đây, chồng tôi liên tục nhắn tin chửi mắng tôi toàn những từ thô tục và rất nhiều lời hăm doạ khác, đe doạ sẽ làm cho tôi mất việc làm, phá xe, đập điện thoại....Vậy bây giờ tôi phải làm sao để chấm dứt việc này? 

Công ty xin tư vấn cho bạn như sau:
Tại Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về các hành vi bạo lực gia đình có quy định:
“1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng”
Như vậy, mặc dù bạn và chồng bạn chưa đăng ký kết hôn mà chỉ sống với nhau như vợ chồng nhưng theo quy định của pháp luật nói trên thì những hành động hành hung của chồng bạn đối với bạn như nhắn tin chửi mắng  toàn những từ thô tục và rất nhiều lời hăm doạ khác, đe doạ sẽ làm cho mất việc làm, phá xe, đập điện thoại...là những hành vi bạo lực gia đình, những hành vi của chồng bạn là những hành vi bị cấm theo Điều 8 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn bạn trở thành nạn nhân bạo lực gia đình. Theo Điều 5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thì bạn có các quyền sau đây:
“a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;
b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;
c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật”
Theo đó, nếu muốn chấm dứt tình trạng bị chồng bạn hành hung, hăm dọa thì bạn hoàn toàn có thể thực hiện các quyền nói trên để đề nghị các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của bạn. 

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Thủ tục ly hôn vắng mặt

Em tôi là người Việt Nam kết hôn với chồng là người Đức. Do mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng nên cả hai đồng ý ly hôn với nhau và thống nhất chọn Toà án Việt Nam xét xử. Hiện em tôi đang sinh sống tại Việt Nam, chồng của cô ấy sinh sống ở Đức và không thể về Việt Nam để làm thủ tục ly hôn. Xin hỏi em tôi có thể làm thủ tục ly hôn vắng mặt được không? Chồng em gái cần thực hiện thủ tục, giấy tờ gì, cơ quan nào có thẩm quyền bên Đức xác nhận?

Xin tư vấn bạn như sau:
Theo điểm c, khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 3, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài. Với trường hợp này, khi người chồng bên Đức không thể về Việt Nam làm thủ tục ly hôn thì người vợ có quyền yêu cầu người chồng làm đơn ly hôn vắng mặt gửi về Việt Nam. Người chồng phải làm đơn xin ly hôn vắng mặt có nội dung:
- Người chồng đồng ý ly hôn với người vợ và nói rõ nguyện vọng về con chung, tài sản chung (nếu có);
- Nói rõ lý do vắng mặt và yêu cầu Tòa án Việt Nam xử vắng mặt.
- Cam kết sẽ không tranh chấp hay khiếu nại gì về sau.
Sau đó đem đi chứng thực chữ ký tại cơ quan có thẩm quyền và đóng dấu xác nhận của Bộ Ngoại giao Đức và gửi về Việt Nam cho người vợ. Khi nhận được đơn của chồng, người vợ đến Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Đức tại Việt Nam để thị thực. Giấy tờ gồm có: Hộ chiếu bản gốc, thẻ cư trú.
Sau đó đến Sở Ngoại vụ để hợp pháp hóa lãnh sự khi đi đem theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa 2 người và sau cùng là đến Phòng công chứng để dịch thuật toàn bộ văn kiện sang tiếng Việt.
Khi đã có đơn xin ly hôn vắng mặt hợp lệ của chồng, người vợ nộp kèm với bộ hồ sơ đơn xin ly của mình gồm:
- Đơn xin ly hôn
- Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính)
- Bản sao sổ hộ khẩu
- Chứng minh nhân dân
- Giấy khai sinh con (nếu có)
Cơ quan thụ lý hồ sơ: Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người vợ cư trú để xin giải quyết ly hôn. Xét xử xong, Tòa án sẽ gửi bản án cho người chồng, nếu chồng đồng ý với bản án thì làm giấy cam kết không kháng cáo gửi cho Tòa (giấy này cũng phải làm như quy trình của đơn xin ly hôn vắng mặt nói trên). Khi nhận được giấy cam kết không kháng cáo hợp lệ, Tòa án sẽ cấp bản án có hiệu lực cho các đương sự. Trường hợp người chồng không nhận được bản án hoặc không làm giấy cam kết theo hướng dẫn của tòa án thì sau 3 tháng kể từ ngày gửi bản án cho người chồng (theo dấu bưu điện) Tòa án sẽ cấp bản án có hiệu lực cho người vợ.

Trình tự, thủ tục giải quyết xin ly hôn:
- Em gái của bạn phải liên hệ Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi em gái bạn đăng ký nhân khẩu thường trú để nộp hồ sơ xin ly hôn. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án nhân dân có thẩm quyền nhận được hồ sơ xin ly hôn hợp lệ của em gái bạn, thì Toà án sẽ có thông báo cho em gái bạn thực hiện việc nộp tạm ứng án phí xin giải quyết ly hôn. Sau khi nộp lại biên lai tạm ứng án phí ly hôn cho toà, thì thời điểm nộp lại biên lai này được xem là thời điểm Toà án đã thụ lý hồ sơ xin ly hôn của em gái bạn.
- Thời hạn giải quyết một nột vụ việc yêu cầu xin ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định hiện nay kéo dài khoảng 6-8 tháng vì trong quá trình giải quyết Toà án nhân dân có thẩm quyền phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp qua lại giữa cơ quan tư pháp của hai nước Việt Nam và Đức.

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Phân chia tài sản khi đơn phương ly hôn

Phân chia tài sản khi đơn phương ly hôn class=Tôi muốn đơn phương xin ly hôn chồng tôi nhưng chúng tôi không thỏa thuận được trong việc phân chia tài sản. Tài sản chung là một ngôi nhà có giá trị khoảng 2 tỷ. Trong đó tôi có đóng góp công sức nhiều hơn. Tôi xin hỏi tôi đơn phương xin ly hôn thì vấn đề phân chia tài sản sẽ như thế nào? Làm thế nào để tôi chứng minh được mình góp công sức nhiều hơn để được chia phần tài sản xứng đáng?

Tư vấn cho bạn như sau:
Thứ nhất, về quyền đơn phương ly hôn
 Tại Khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định:
“... Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn...”
Do vậy, bạn hoàn toàn có quyền đơn phương yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.
Theo quy định của pháp luật tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 thì Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Toà án tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự” và trong trường hợp của bạn “Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án xem xét, giải quyết việc ly hôn” theo quy định tại Điều 91 Luật này.
Do đó, khi bạn đơn phương ly hôn thì tòa án sẽ tiến hành hòa giải, trong quá trình hòa giải tại tòa án mà chồng bạn không đồng ý ly hôn trong khi bạn vẫn giữ quyết định ly hôn hoặc ngược lại thì Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải không thành và xem xét, giải quyết việc ly hôn của bạn.
Thứ hai: việc chia tài sản chung của 2 vợ chồng
Việc chia tài sản chung của 2 vợ chồng sẽ tuân theo nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 như sau:
“1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết...
2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình...”
Do hai vợ chồng bạn không tự thỏa thuận được về việc chia tài sản nên sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung của hai vợ chồng là căn nhà có giá trị 2 tỉ đồng sẽ đươc chia theo quy định tại Điều 98 “Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này; nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng”
Theo đó, trong trường hợp của bạn thì tài sản chung là ngôi nhà sẽ được chia đôi, có tính đến hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này.
Để chứng minh được mình góp công sức nhiều hơn để đươc chia phần tài sản xứng đáng với công sức của mình bạn phải đưa ra các dẫn chứng để chứng minh mình đóng góp công sức nhiều hơn vào ngôi nhà của 2 vợ chồng bạn. 

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Xác định tên gọi chính xác của một người khi không còn giấy khai sinh

Bố tôi mất giấy khai sinh. Hiện tại tên của bố tôi trong chứng minh nhân dân và giấy khai sinh không khớp với nhau. Hiện giờ bố tôi đã làm mất giấy khai sinh nên không có căn cứ để sửa đổi tên gọi cho phù hợp. Vậy bố tôi phải làm như thế nào để xác thực tên của mình?

Xin tư vấn cho bạn như sau:
Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch đã nêu rõ: Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó. Do đó, khi tên của bố bạn trên giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và chứng minh nhân dân là khác nhau thì cần phải xác định tên chính xác theo Giấy khai sinh của bố bạn. Nếu bố bạn đã làm mất Giấy khai sinh thì tùy từng trường hợp, bố bạn có thể xin cấp lại bản chính Giấy khai sinh hoặc làm thủ tục đăng ký lại việc sinh theo hướng dẫn tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP. Cụ thể như sau:
* Trường hợp xin cấp lại bản chính giấy khai sinh:
Khoản 1 Điều 62 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP nêu: Trong trường hợp bản chính Giấy khai sinh bị mất, hư hỏng hoặc phải ghi chú quá nhiều nội dung do được thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch hoặc điều chỉnh hộ tịch mà Sổ đăng ký khai sinh còn lưu trữ được, thì được cấp lại bản chính Giấy khai sinh.
Theo đó, bố bạn có thể đến Ủy ban nhân dân cấp huyện, nơi lưu trữ Sổ đăng ký khai sinh để xin cấp lại bản chính Giấy khai sinh; nếu tại đây còn lưu trữ Sổ đăng ký khai sinh thì cán bộ đăng ký sẽ làm thủ tục cấp bản chính Giấy khai sinh cho bạn theo thủ tục hướng dẫn tại Điều 63 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.
* Trường hợp đăng ký lại việc sinh:
Nếu cả bản chính giấy khai sinh và sổ hộ tịch đều đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được thì bố bạn được đăng ký lại việc sinh (theo Điều 46 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP). Bố bạn có thể đến Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi bố bạn cư trú hoặc nơi đã đăng ký việc sinh trước đây để thực hiện việc đăng ký lại. Thủ tục đăng ký lại thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 48 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, cụ thể như sau:
- Bố bạn phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định).
Trong trường hợp đăng ký lại tại Ủy ban nhân dân cấp xã, không phải nơi bố bạn đã đăng ký hộ tịch trước đây, thì Tờ khai phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký hộ tịch về việc đã đăng ký; trừ trường hợp đương sự xuất trình được bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệ trước đây.
- Khi nhận hồ sơ hợp lệ, cán bộ tư pháp hộ tịch sẽ làm thủ tục cấp bản chính giấy khai sinh “Đăng ký lại” cho bố bạn.
Về việc xác định tên của bố bạn khi không còn bản chính và bản sao giấy khai sinh đã cấp trước đây: Nếu hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên.

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Nhập quốc tịch Việt Nam cho con chưa thành niên

Tôi kết hôn với chồng tôi, quốc tịch Mỹ, tại Sở Tư pháp tỉnh Bình Định. Khi sinh một con gái chung, bé chỉ mang quốc tịch Hoa Kỳ. Nay chúng tôi ly dị, tôi nuôi con gái. Xin hỏi, tôi có thể làm đơn xin cho con tôi được nhận quốc tịch Việt Nam không?


Tư vấn như sau:
Theo quy định tại Điều 19 và Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, nếu bạn muốn con gái mình có quốc tịch Việt Nam thì phải làm thủ tục xin nhập quốc tịch Việt Nam cho cháu. Tuy nhiên, bạn cần lưu ý điều kiện để cháu được nhập quốc tịch Việt Nam là phải cư trú tại Việt Nam, có nghĩa là cháu đã về Việt Nam sinh sống. Trường hợp cháu là con chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) thì bạn sẽ là người đứng tên trong Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam cho con
Trình tự thực hiện:
- Người xin nhập quốc tịch Việt Nam nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi cư trú
- Nhận kết quả tại nơi nộp hồ sơ
Cách thức thực hiện:
- Người xin nhập quốc tịch Việt Nam nộp trực tiếp tại Sở Tư pháp nơi cư trú
Thành phần hồ sơ:
- Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam;
- Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế; (Giấy tờ khác có giá trị thay thế Giấy khai sinh, Hộ chiếu của người xin nhập quốc tịch Việt Nam là những giấy tờ có giá trị chứng minh quốc tịch nước ngoài của người đó); Bản sao Giấy khai sinh của người con chưa thành niên cùng nhập quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ nhập quốc tịch Việt Nam mà con chưa thành niên sinh sống cùng người đó nhập quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ thì còn phải nộp văn bản thoả thuận của cha mẹ về việc nhập quốc tịch Việt Nam cho con;
-  Bản khai lý lịch;
- Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ;
- Giấy tờ chứng minh trình độ Tiếng Việt; (Giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt của người xin nhập quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây: bản sao bằng tốt nghiệp sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở của Việt Nam; bản sao văn bằng hoặc chứng chỉ chứng nhận trình độ tiếng Việt do cơ sở đào tạo tiếng Việt của Việt Nam cấp. Trong trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam khai báo biết tiếng Việt đủ để hoà nhập. (Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được đánh giá trên cơ sở khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt với công dân Việt Nam trong cuộc sống, phù hợp với môi trường sống và làm việc của người đó), nhưng không có một trong các giấy tờ nêu trên, thì Sở Tư pháp tổ chức phỏng vấn trực tiếp để kiểm tra trình độ tiếng Việt của người đó theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn bản; người trực tiếp phỏng vấn căn cứ vào tiêu chuẩn quy định (Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được đánh giá trên cơ sở khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt với công dân Việt Nam trong cuộc sống, phù hợp với môi trường sống và làm việc của người đó) để đề xuất ý kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến đề xuất của mình;
- Giấy tờ chứng minh về chỗ ở, thời gian thường trú ở Việt Nam (Bản sao Thẻ thường trú);
- Giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam. (Giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam gồm một trong các giấy tờ sau: giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản; giấy xác nhận mức lương hoặc thu nhập do cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc cấp; giấy xác nhận của cơ quan thuế về thu nhập chịu thuế; giấy tờ chứng minh được sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam; giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người xin nhập quốc tịch Việt Nam về khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người đó).
Số lượng hồ sơ: 03 bộ
Thời hạn giải quyết: 115 ngày ( thời gian giải quyết thực tế tại các cơ quan có thẩm quyền)
Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân
Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Sở Tư pháp cấp tỉnh
Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: quyết định
Lệ phí (nếu có): 3.000.000 đồng/trường hợp

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

Hỏi về xác định tài sản chung của vợ chồng

Tóm tắt câu hỏi:
Chào luật sư cho em hỏi về trường hợp 1 người đã có chồng nhưng trong quá trình làm việc ở nước ngoài thì chung sống như vợ chồng với người khác và giữa họ có tài sản chung. Một thời gian sau người này về nước li hôn với chồng ở việt nam và tòa đã thụ lí đơn, nhưng 1 năm sau ngày tòa thụ lí đơn thì người vợ này chết.Vậy nếu số tài sản của người vợ này và người chồng ở nước ngoài được chia ra thì số tài sản đó có phải là tài sản chung của người vợ và người chồng ở vn không.Mong luật sư giải đáp sớm dùm em trong tuần này được không ạ,em cần thông tin này rất gấp. Luật sư giúp dùm em,em cám ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:
Vấn đề bạn hỏi chúng tôi đưa ra quan điểm tư vấn như sau:
Thứ nhất: Quan hệ vợ chồng.
Tại Khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 sửa đổi 2010 quy định: “.....Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng”.
Như vậy theo quy định trên thì người đã có chồng mà chung sống với người khác như vợ chồng ở nước ngoài thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Tại Khoản 8 Điều 8 Luật hôn Nhân và gia đình 2010 về Ly hôn quy định: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa  án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng’;
Theo quy định trên thì quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt khi có bản án, Quyết định và Bản án, quyết định đó phải có Hiệu lực của Tòa án. Trong trường hợp này Tòa án mới chỉ thụ lý đơn chứ chưa có quyết định, bản án. Nên quan hệ của người vợ và người chồng ở Việt Nam vẫn là quan hệ vợ chồng hợp pháp được pháp luật công nhận.
Thứ hai, Tài sản chung.
Tại Khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2010 về Tài sản chung của vợ chồng quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời ký hôn nhân; tài sản mà vợ chồng thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chông thỏa thuận là tài sản chung”....
Theo quy định trên thì số tài sản của người vợ sau khi chia với người chồng ở nước ngoài thì đó là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (tức là tài sản chung của vợ và chồng người Việt Nam), số tài sản này được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân và do vợ tạo ra do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ trong thời kỳ hôn nhân.

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

Định đoạt tài sản riêng

Tóm tắt câu hỏi:
Thưa luật sư, bố mẹ tôi đang sống ở vùng quê ngoại ô thành phố Hà Nội, mẹ tôi đang sở hữu một lô đất. Lô đất này đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) mang tên mẹ tôi, hình thức sử dụng là sử dụng riêng. Trên đó có một căn nhà cấp 4 nhưng căn nhà này lại là do bố mẹ tôi cùng xây dựng lên. Nay mẹ tôi muốn chia phần đất đó cho các con mà không cần sự đồng ý của bố tôi. Như vậy có đúng pháp luật không? Nếu không thì mẹ tôi phải làm thế nào để chia được phần đất đó cho các con? Xin cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:
Vấn đề của bạn, luật sư xin có ý kiến như sau:
Thứ nhất, việc phân định tài sản: Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
Tài sản chung của vợ chồng (Điều 27)
- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa  thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa  thuận.
 Tài sản riêng của vợ, chồng (Điều 32)
-  Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.
- Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật Hôn nhân và gia đình; đồ dùng, tư trang cá nhân.
- Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.
Như vậy, đối chiếu theo điều luật trên thì tài sản chung của vợ chồng là ngôi nhà cấp bốn do hai vợ chồng xây dựng nên, còn lô đất đo do mẹ bạn có trước thời kì hôn nhân nên đó thuộc vào tài sản riêng của mẹ bạn (nếu mẹ bạn không đồng ý nhập lô đất đó vào khối tài sản chung).
Thứ hai, Đối với yêu cầu phải có xác nhận của bố bạn
Như trên đã nói, theo quy định của pháp luật, tài sản này không phải là tài sản chung của bố mẹ bạn do được hình thành trước thời kỳ hôn nhân nên việc chia đất cho con của mẹ bạn không nhất thiết phải cần có sự đồng ý của bố bạn. Tuy nhiên, Khoản 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định: Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó (ngôi nhà cấp 4) là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả vợ chồng. Trong trường hợp này ngôi nhà cấp 4 có lẽ cũng chỉ nhằm mục đích để ở chứ không phải là nguồn sống duy nhất của gia đình do vậy giữa bố mẹ bạn không cần có sự thỏa thuận về việc định đoạt lô đất đó. Việc định đoạt lô đất đó hoàn toàn do mẹ bạn quyết định.

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Hành vi đánh con

Tóm tắt câu hỏi:
Chào anh chị, em có một vấn đề muốn hỏi anh chị như sau:
Em có một người bạn năm nay 15-16 tuổi. Bố mẹ bạn ấy đã ly hôn và hiện bạn ấy ở với mẹ. Ở nhà bạn ấy hay bị la mắng, lăng nhục, xúc phạm và đánh đập. Có lần bạn ấy bỏ nhà đi nhưng bị lôi về và tiếp tục bị đối xử thô bạo như trên. Em không biết phải giúp đỡ bạn ấy như thế nào. Mong anh chị giúp đỡ.

 Luật sư tư vấn:
Chào bạn, qua thông tin mà bạn cung cấp chúng tôi đưa ra quan điểm như sau:
Trước hết chúng tôi xác định người bạn của bạn là người chưa thành niên theo quy định tại Điều 18, Bộ luật dân sự 2005. Theo đó:
“Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên”.
Trong trường hợp bạn đưa ra, người bạn của bạn đã và đang bị mẹ của mình xúc phạm và đối xử thô bạo. Đây là hành vi bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái theo quy định tại Điều 41, Luật Hôn nhân và gia đình. Theo đó: Khi cha, mẹ […] có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con […] thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của các cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42 Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con […] trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.
Những cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42, Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm:
- Cha, mẹ, người thân thích của con chưa thành niên;
- Viện kiểm sát;
- Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
- Hội liên hiệp phụ nữ.
Như vậy, để bảo vệ quyền lợi của bạn mình, bạn có thể thông báo về việc bạn mình thường xuyên bị mẹ xúc phạm, đánh đập cho bố hoặc những người thân thích (ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; anh ruột, chị ruột; cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột) của người bạn trên biết. Từ đó, họ có thể yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hạn chế một số quyền của cha, mẹ với con chưa thành niên.

Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014

Người nước ngoài làm thủ tục nhận con nuôi

Tôi là người Việt Nam có quốc tịch Nhật Bản, hiện nay đang công tác tại Việt Nam. Tôi muốn nhận cháu trai gọi tôi bằng bác làm con nuôi. Xin cho tôi biết cần có những điều kiện như thế nào để có thể nhận con nuôi và các thủ tục giấy tờ cần thiết, các bước tiến hành ở các cơ quan chức năng nào? Xin cám ơn!

Do bạn không nêu rõ mối quan hệ của bạn với cháu bạn có phải là bác ruột của trẻ được nhận làm con nuôi hay không nên sẽ có hai trường hợp xảy ra:
Trường hợp thứ nhất: Nếu bạn là bác ruột trong mối quan hệ với trẻ được nhận làm con nuôi thì bạn được xin nhận đích danh cháu bé này.
Để nhận nuôi cháu, bạn và cháu phải đáp ứng các điều kiện về người nhận và người được nhận làm con nuôi theo quy định tại Điều 8 và Điều 14 Luật Nuôi con nuôi.
Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định về người được nhận làm con nuôi là:
“1. Trẻ em dưới 16 tuổi
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;
b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.
4. Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.”
Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định về người nhận con nuôi là:
“1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;
d) Có tư cách đạo đức tốt.
2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:
a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;
c) Đang chấp hành hình phạt tù;
d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.”
Bạn cần chuẩn bị 02 bộ hồ sơ của mình với các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Nuôi con nuôi gồm:
- Đơn xin nhận con nuôi;
- Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;
- Văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam;
- Bản điều tra về tâm lý, gia đình;
- Văn bản xác nhận tình trạng sức khỏe;
- Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản;
- Phiếu lý lịch tư pháp;
- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;
- Tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được xin đích danh quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật này.
Ngoài ra bạn mang theo Giấy tờ chứng minh bạn là bác ruột của người được nhận làm con nuôi hoặc Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi cư trú tại Việt Nam và Giấy tờ chứng minh bạn đã có thời gian làm việc liên tục tại Việt Nam trong thời gian ít nhất 01 năm tính đến ngày nộp hồ sơ.
Bạn có thể đến trực tiếp hoặc ủy quyền nộp hồ sơ cho Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp.
Trường hợp thứ hai:  Nếu bạn không phải là bác ruột của trẻ  và chưa đủ thời gian làm việc liên tục tại Việt Nam trong thời gian ít nhất 01 năm thì bạn không thể nhận bé trai đó làm con nuôi vì hiện nay giữa Việt Nam và Nhật Bản chưa có quan hệ hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi.