Phan Phi Hổ
Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Định
Như chúng ta được biết, Trợ giúp pháp lý (TGPL) đến nay đã được hầu hết các quốc được bình đẳng trước pháp luật và trong việc tiếp cận công lý. Để người nghèo và các nhóm yếu thế thực sự bình đẳng với các cá nhân khác trong xã hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, một yêu cầu đặt ra là dịch vụ trợ giúp pháp lý mà Nhà nước cung cấp phải có chất lượng không thấp hơn chất lượng của dịch vụ pháp lý có thu phí. Việc nâng cao chất lượng TGPL luôn là mối quan tâm và là bài toán khó đối với tất cả các quốc gia, bởi lẽ cũng tương tự như các loại dịch vụ công miễn phí khác, chất lượng của dịch vụ TGPL thường bị ảnh hưởng do nhiều nguyên nhân như thiếu sự cạnh tranh, thiếu sự tham gia tích cực của những luật sư, luật gia giỏi, thiếu cơ chế giám sát hiệu quả từ phía những người thuộc diện được thụ hưởng dịch vụ.
![]() |
| Minh họa |
Còn ở việt Nam , Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua tháng 6/2006 và có hiệu lực thi hành vào 01/01/2007. Luật Trợ giúp pháp lý là một bước tiến dài của công tác lập pháp khi đúc kết kinh nghiệm của việc thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp pháp lý (TGPL), một lĩnh vực hoạt động pháp luật tương đối mới mẻ được thể chế ổn định trong văn bản có hiệu lực cao. Luật này còn là tuyên ngôn nhân quyền của Nhà nước Việt Nam về vấn đề công lý khi khẳng định quyền được TGPL của người nghèo và các nhóm dân cư thiệt thòi, dễ bị tổn thương được Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm để họ có quyền bình đẳng tiếp cận dịch vụ pháp lý có chất lượng như các công dân khác. Việc giám sát thực hiện Luật này có vị trí rất quan trọng vì thông qua số vụ việc và lĩnh vực pháp luật người dân thường có vướng mắc, cơ quan lập pháp có cơ sở để xem lại các quy định pháp luật hiện hành ở các lĩnh vực này, cơ quan quản lý cũng có căn cứ để xem lại đội ngũ công chức đang có trách nhiệm giải quyết việc của dân, không để “cái sảy nảy cái ung”. Giám sát về thực hiện Luật này có thể được xem xét từ nhiều góc độ như: theo thẩm quyền của các chủ thể có trách nhiệm tổ chức thực hiện Luật; việc hình thành các tổ chức thực hiện TGPL và các tổ chức này có tuân thủ luật hay không; việc các đối tượng thuộc diện có được bảo đảm nhận dịch vụ dễ dàng và đúng đắn; nhu cầu TGPL của người dân tăng hay giảm, tập trung nhiều ở lĩnh vực pháp luật nào; người thực hiện TGPL có được hình thành và đáp ứng yêu cầu của người dân hay chưa; chất lượng dịch vụ TGPL so với chất lượng dịch vụ ngoài thị trường tự do như thế nào...
Trong phạm vi nghiên cứu cách tiếp cận thi hành Luật TGPL tôi có mấy vấn đề cần trao đổi như sau:
1. Cơ sở lý luận của việc cần trợ giúp pháp lý có chất lượng
Để ghi nhận những quyền cơ bản của công dân, Điều 132 Hiến pháp của Việt Nam quy định: “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm. Bị can, bị cáo có thể tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị can, bị cáo”.
“Sự giúp đỡ về pháp lý” trong các trường hợp bị đưa ra xét xử hoặc để bảo vệ quyền lợi là rất cần thiết vì pháp luật có vai trò rất quan trọng, gần như là cơ sở duy nhất để bảo vệ quyền công dân. Phải được giúp đỡ pháp lý khi vụ việc hoặc các vấn đề cụ thể của một cá nhân được các cơ quan hành chính công giải quyết (ví dụ, đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác định về mức bồi thường giải toả...), hoặc vụ việc của họ được các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết (về hình sự, dân sự, hành chính, hôn nhân - gia đình, lao động, việc làm...). Điều này là thực tế vì các lý do: pháp luật rất cồng kềnh, nhiều tầng nấc, phức tạp, khó hiểu, khó sử dụng, trong khi hoạt động công vụ (tiếp dân, các hành vi hành chính, quyết định hành chính, giải quyết khiếu nại, xét xử,...) vẫn còn bất cập, quan liêu, nhiều khi còn tiêu cực; trình độ cán bộ hiểu biết về pháp luật chưa bảo đảm ngang tầm khi áp dụng, tuân thủ pháp luật trong hoạt động công vụ; “dân trí” pháp lý chưa đủ để tiếp cận và sử dụng các quy định cụ thể trong quan hệ ứng xử đời sống thường nhật nên vi phạm luật và đôi khi rơi vào tình trạng bi thảm, rất đáng tiếc, trong khi đó, các khiếu kiện, kết quả xử lý các vướng mắc của dân nói chung còn chưa thoả đáng, chưa bảo đảm “tâm phục, khẩu phục”. Vì vậy, nhu cầu được giúp đỡ của người dân về mặt pháp lý là khách quan để hiểu rõ vấn đề của họ pháp luật quy định thế nào? Cơ quan có thẩm quyền giải quyết đã thoả đáng chưa? nếu chưa thì họ cần yêu cầu nơi nào? Ai là người họ phải gặp? Và họ phải có các giấy tờ, tài liệu gì? Chứng cứ gì?... Pháp luật ban hành càng nhiều, các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh càng rộng thì nhu cầu giúp đỡ pháp lý càng tăng hơn, đa dạng, phức tạp hơn, liên quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan hơn, đồng nghĩa với nguồn lực để cung ứng dịch vụ này phải cao hơn, ngang tầm hơn.
Việc Nhà nước tổ chức thực hiện TGPL là phù hợp quy luật phát triển chung với thế giới và với xã hội Việt Nam để đáp ứng nhu cầu khách quan của quản lý, hỗ trợ bảo vệ quyền công dân, làm giảm các vụ khiếu kiện không cần thiết, giảm vụ việc phải đưa ra Toà án, tăng cường mối quan hệ thân thiện giữa người dân với chính quyền, giữ gìn khối đoàn kết cộng đồng và tăng niềm tin của người dân vào vai trò pháp luật. Cũng như các hoạt động dịch vụ pháp luật khác, TGPL được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, thể hiện bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thay mặt Nhà nước, thành chỗ dựa tin cậy cho người nghèo, đối tượng chính sách khi cần hỗ trợ pháp luật; góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, tăng cường hiệu lực quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN; góp phần ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
2. Làm thế nào để bảo đảm chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý
Do đối tượng phục vụ của TGPL rất đặc thù, là người nghèo và các đối tượng chính sách nên đòi hỏi TGPL phải theo quy chuẩn nhất định, để tránh tình trạng “làm miễn phí thì thế nào cũng được”, hoặc kiểu ban ơn, nhận thức đơn giản như làm từ thiện, hình thức, không đem lại hiệu quả. Làm TGPL khó hơn cung cấp dịch vụ pháp lý cho những người dân khác có trình độ và sống ở môi trường thuận lợi. Vì người dân khá giả thông thường có trình độ cao hơn thì biết cách lưu giữ chứng cứ, tài liệu, biết khai thác thông tin, biết trình bày đơn, từ... còn người nghèo thì vừa thiếu thông tin, không biết lưu giữ tài liệu, lại vừa không biết trình bày, lo lắng, thiếu niềm tin, hay tự ti và người dân tộc thiểu số còn bị khó khăn hơn khi bất đồng ngôn ngữ... Do đó, bên cạnh việc trình tự, thủ tục tiếp nhận và giải quyết vụ việc liên quan đến quyền lợi của người dân đã được Luật quy định theo hướng công khai, minh bạch, dễ hiểu, đơn giản hóa tới mức tối đa, linh hoạt, tránh phiền hà; địa điểm tiếp dân thuận lợi, dễ tiếp cận; Luật còn đặt ra một yêu cầu rất cao là TGPL phải có chất lượng, sai phải bồi thường.
Thế nào là vụ việc TGPL được thực hiện có chất lượng? Người được TGPL và những người liên quan có cho vụ việc đã được TGPL là có chất lượng hay không? Tiêu chí nào để trả lời cho câu hỏi “ chất lượng” này? Đây là vấn đề khó nhưng cũng rất lý thú. Vì chất lượng vụ việc TGPL không thể cân, đo, đong, đếm... như các hoạt động khác, không thể đơn thuần là thắng, thua kiện..., ngay giá trị xã hội mà nó đem lại dù rất lớn (ví dụ: lấy lại niềm tin pháp luật cho một cộng đồng, một dòng họ...) nhưng sự đánh giá lại tuỳ thuộc mức độ nhận thức của xã hội và người thụ hưởng. Chất lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ quan và khách quan, như năng lực, kỹ năng và tinh thần trách nhiệm của người thực hiện; tính thời hiệu; bản chất vụ việc; tài liệu, thông tin và chứng cứ; năng lực thông tin của đối tượng; sự phối hợp của người có trách nhiệm; tính tương thích của pháp luật thực định... Ngoài ra, chất lượng cũng phụ thuộc vào nhận thức của cộng đồng, dư luận, sự đánh giá của xã hội, sự tin cậy của đối tượng, quan điểm của các cấp lãnh đạo, sự hỗ trợ từ các cơ quan, Chính quyền, tổ chức xã hội, cơ chế bảo đảm về nguồn nhân lực, tài lực phù hợp...
Việc bảo đảm chất lượng vụ việc được Luật TGPL quy định gắn với nhiều nguyên tắc quan trọng xuyên suốt quá trình thực hiện TGPL như: người thực hiện TGPL phải “tôn trọng sự thật khách quan” (phải trên cơ sở nghiên cứu toàn diện, đầy đủ và khách quan các tình tiết của vụ việc, tránh chủ quan, chỉ nghe một bên vì nhiều đối tuợng giấu giếm sự thật chỉ nói ra những điều có lợi cho mình); áp dụng đầy đủ các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL (ở đây lại phải nắm rõ những biện pháp phù hợp là biện pháp nào? Áp dụng thế nào là đầy đủ...; ví dụ: khi nghiên cứu về nhân thân và hoàn cảnh của bị can cho thấy có thể đề nghị cho tại ngoại theo điều kiện bảo lãnh tại ngoại nhưng nếu nếu bị can tại ngoại bên ngoài có nguy cơ bị trả thù... thì không nên đề nghị tại ngoại; hoặc thấy kết quả giám định không đầy đủ thì yêu cầu giám định bổ sung... có nghĩa là phải cân nhắc cụ thể về quyền trong tố tụng và từng biện pháp cần áp dụng và các bước tiến hành); tuân thủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung TGPL (phải tuân thủ pháp luật, các quy định về thủ tục, quy trình, lấy pháp luật làm công cụ để bảo vệ đối tượng, đồng thời bảo vệ pháp luât; nếu TGPL sai gây thiệt hại cho đối tượng phải chịu trách nhiệm bồi thường). Luật TGPL (khoản 5 Điều 11) cũng quy định quyền của người được TGPL: “ được lựa chọn, thay đổi người thực hiên TGPL”, “được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật” tương ứng với nghĩa vụ của tổ chức thực hiện TGPL: “Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện TGPL”. Như vậy, nếu người thực hiện TGPL kém, thiếu tinh thần trách nhiệm, vụ lợi, không tận tuỵ... thì vụ việc dễ bị kém chất lượng, bị sai hoặc gây thiệt hại cho đối tượng, đối tượng có quyền đề nghị thay đổi, có quyền kiện đòi bồi thường. Luật cũng quy định người thực hiện phải từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trong các trường hợp có lợi ích liên quan hoặc có các điều kiện có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng vụ việc.
Việc giám sát cần dựa vào các tiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc TGPL với các nội dung chủ yếu như sau: 1) Nội dung vụ việc TGPL bảo đảm tính hợp pháp, không trái đạo đức xã hội, khách quan, trung thực, toàn diện và hướng tới bảo vệ tốt nhất các quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL; 2) Sự tuân thủ pháp luật, đạo đức xã hội và quy tắc nghề nghiệp TGPL của người thực hiện TGPL; 3) Các hình thức văn bản thể hiện quá trình TGPL bao gồm Phiếu thực hiện, văn bản tư vấn pháp luật, bản bào chữa, bản bảo vệ quyền lợi cho người được TGPL, bản báo cáo về những công việc đã thực hiện trong phạm vi đại diện ngoài tố tụng, biên bản về việc thực hiện TGPL, biên bản hoà giải hoặc các văn bản khác; 4) Thời gian thực hiện TGPL bao gồm thời gian: nghiên cứu hồ sơ, tài liệu có liên quan đến vụ việc; thu thập, xác minh các tình tiết có liên quan đến vụ việc, tiếp xúc với người được TGPL hoặc thân nhân của họ; làm việc tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ việc TGPL; nghiên cứu các quy định của pháp luật phục vụ cho việc thực hiện vụ việc TGPL; 5) Sự hài lòng của người được TGPL về kết quả vụ việc, về thái độ phục vụ của người thực hiện vụ việc; sự phản hồi từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và hậu quả pháp lý phát sinh từ nội dung vụ việc TGPL (thực chất cũng là sự hài lòng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan).
3. Thực trạng áp dụng Bộ tiêu chuẩn chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý ở Bình Định
Bình Định là tỉnh duyên hải Miền Trung, có diện tích tự nhiên là 6.025,6 km2 chia thành 10 huyện, 01 thành phố với 159 xã, phường, thị trấn. Đây cũng là nơi giao lưu của các tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên, có nhiều đầu mối giao thông quan trọng như: sân bay, nhà ga, bến cảng…. Dân số hiện nay có 1,6 triệu người, gồm 4 dân tộc đang sinh sống: Chăm, Ba Na, Hê Rê và kinh. Trong đó dân tộc Ba Na, Hê Rê, Chăm có trên 35.000 người; người có công cách mạng trên 40.000 người; có 53.768 hộ nghèo (chiếm 15,45% trong tổng số hộ trong tỉnh); trẻ em mồ côi là 4.331 trẻ em; người già cô đơn 6.911 người; người tàn tật 24.901 người. Mặt khác do địa hình dân cư rộng (nơi cách xa tỉnh lỵ trên 150 km). Người được hưởng chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí chiếm khá nhiều trong nhân dân, đòi hỏi việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hướng dẫn giúp đỡ pháp lý cho họ là một yêu cầu cấp thiết. Thực tiễn hoạt động TGPL từ khi Luật Trợ giúp pháp lý có hiệu lực đến nay cho thấy, thông qua các hoạt động tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, giúp đỡ về thủ tục khiếu nại, hành chính, hoà giải,... với các phương thức trợ giúp phong phú (tại trụ sở, lưu động về các vùng xa, vùng sâu, sinh hoạt Câu lạc bộ tại cộng đồng...), gần dân, thân dân, gắn với cơ sở, TGPL đã góp phần giải quyết vướng mắc pháp luật, giải tỏa bức xúc, tranh chấp trong cộng đồng cho : 11.567 vụ việc (từ tháng 01/2007 đến nay), truyền thông pháp luật cho hàng triệu lượt người. Trong đó có: 10.777 vụ tư vấn, 792 đại diện bào chữa, trong đó có: 1.769 lượt người nghèo, 1.757 đối tượng có công, 1.753 người dân tộc, 3.035 người thuộc các diện khác…
Cụ thể hóa quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và Nghị định số 07/2007/NĐ-Cp ngày 12/01/2007 của Chính phủ về kiểm tra, đánh giá chất lượng vụ việc Trợ giúp pháp lý, tiêu chí đánh gía chất lượng vụ việc TGPL, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng vụ việc TGPL, tạo cơ sở cho người có yêu cầu TGPL được thụ hưởng dịch vụ pháp lý miễn phí với chất lượng tốt nhất, ngày 29/12/1008, Bộ Tư pháp ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL (Bộ tiêu chuẩn) kèm theo Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP. Đây là lần đầu tiên chất lượng vụ việc TGPL được thể hiện trên những tiêu chí về nội dung, hình thức, tạo điều kiện cho việc đánh giá, quản lý chất lượng vụ việc TGPL.
Trước khi có Bộ tiêu chuẩn, tại Bình Định việc đánh giá chất lượng vụ việc chủ yếu thực hiện thông qua công tác thẩm định hồ sơ vụ việc TGPL (kiểm tra, xem xét hồ sơ) do các chuyên viên TGPL tiến hành. Việc thẩm định được thực hiện như sau: Trung tâm nhận hồ sơ do người thực hiện TGPL (chuyên viên hoặc cộng tác viên) gửi về; phân công người thực hiện thẩm định; người thẩm định tập trung xem xét một số yếu tố liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng vụ việc như: Hồ sơ vụ việc; diện người được TGPL; phạm vi, lĩnh vực thực hiện TGPL; các công việc TGPL đã thực hiện; nội dung TGPL có phù hợp với quy định về TGPL; kết quả vụ việc TGPL; Kỹ năng thực hiện TGPL của người thực hiện TGPL; các văn bản pháp luật được viện dẫn khi thực hiện TGPL; thời gian thực hiện TGPL; tính hợp pháp thủ tục, giấy tờ có trong hồ sơ.
Bên cạnh việc thẩm định hồ sơ vụ việc TGPL, đối với các vụ việc tham gia tố tụng, Trung tâm đã cử các chuyên viên dự và theo dõi các phiên tòa do Luật sư cộng tác viên của Trung tâm thực hiện đại diện, bào chữa cho người được TGPL để có điều kiện đánh giá sát thực chất lượng vụ việc.
Khi Bộ tiêu chuẩn được ban hành, qua 4 năm thực hiện, Trung tâm TGPLNN tỉnh Bình Định đã tăng cường quản lý chất lượng vụ việc do đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên tiến hành; kịp thời phổ biến, quán triệt nội dung của Bộ tiêu chuẩn đến đội ngũ Trợ giúp viên,cộng tác viên TGPL thông qua hội nghị tập huấn, họp định kỳ hàng tháng, nhằm nâng cao nhận thức của đội ngũ người thực hiện TGPL về sự cần thiết của việc đánh giá chất lượng TGPL. Việc lập hồ sơ vụ việc TGPL đáp ứng được các yêu cầu đặt ra như: Hồ sơ được lập, quản lý theo đúng quy định của pháp luật, được sắp xếp theo thứ tự thời gian, dễ tra cứu, khai thác và sử dụng; đồng thời hồ sơ vụ việc đã thể hiện đầy đủ, chính xác, đúng quy trình thực hiện vụ việc TGPL theo hình thức, trình tự thời gian, nội dung khách quan của vụ việc và kết quả thực hiện TGPL. Việc tự đánh giá về chất lượng vụ việc TGPL của các Trợ giup viên pháp lý và cộng tác viên thực hiện trên cơ sở các tiêu chuẩn đánh giá quy định tại Bộ tiêu chuẩn đã được triển khai thực hiện có hiệu quả. Bên cạnh đó, những quy định của Thông tư 05/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ TGPL và quản lý nhà nước về TGPL cũng được Giám đốc Sở Tư pháp chỉ đạo Trung tâm thực hiện đầy đủ và nghiêm túc.
Trong công tác quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý Sở Tư pháp cũng đã căn cứ trên cơ sở đặc điểm của người được TGPL, phạm vi yêu cầu TGPL, tính chất phức tạp của vụ việc, tổ chức thực hiện TGPL chỉ đạo Giám đốc Trung tâm phân công Trợ giúp viên (TGV) pháp lý, cộng tác viên thực hiện TGPL, bảo đảm phù hợp với chuyên môn năng lực, nghề nghiệp cũng như các điều kiện cần thiết khác: Thời gian, phương tiện… bảo đảm cho vụ việc được trợ giúp được thuận lợi; theo dõi các quá trình tác nghiệp của người thực hiện TGPL….; theo dõi sự phản hồi của người được TGPL về kết quả thực hiện TGPL xem xét việc thực hiện kiến nghị để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết lại vụ việc nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL; Xem xét nghiệm thu, đánh giá lại chất lượng vụ việc TGPL của người thực hiện TGPL, rút ra những ưu điểm, hạn chế trong việc thực hiện TGPL.
Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL cũng như thực tế áp dụng Bộ tiêu chuẩn đến nay vẫn có những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc, đó là:
* Thuận lợi
- Có Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý (TGPL), đây là cơ sở pháp lý để người thực hiện TGPL tự đánh giá chất lượng vụ việc TGPL do mình thực hiện hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc đánh giá chất lượng vụ việc được TGPL;
- Thông qua việc đánh giá vụ việc thực hiện TGPL của Trợ giúp viên pháp lý, của các cộng tác viên TGPL, Trung tâm TGPL đã xác định được mức độ trách nhiệm, năng lực của người thực hiện TGPL. Từ đó có kế họach bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao năng lực của người thực hiện TGPL;
- Thời gian qua, các Trợ giúp viên pháp lý, các cộng tác viên TGPL thực hiện các vụ việc TGPL cho người được TGPL nhìn chung đảm bảo được yêu cầu, tiêu chuẩn của chất lượng vụ việc TGPL như: việc thực hiện TGPL đối với từng hình thức TGPL cụ thể bảo đảm tuân thủ các yêu cầu về trình tự, thủ tục thực hiện vụ việc theo quy định của pháp luật về TGPL và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Phần lớn các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho Trung tâm TGPL, các Chi nhánh TGPL, người thực hiện TGPL thông tin tuyên truyền pháp luật đến với người dân nói chung và người được TGPL nói riêng; đồng thời thực hiện công tác TGPL, trong đó có việc trả lời hoặc phối hợp đề xuất hướng giải quyết các vụ việc liên quan đến TGPL
* Khó khăn, vướng mắc
- Tại Điều 25 của Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP ngày 29/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư Pháp về ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL trong đó nói rõ việc “Tự đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý” của người thực hiện TGPL khi vụ việc TGPL đã hòan thành. Tuy nhiên, trong thực tế người thực hiện TGPL không tự đánh giá kết quả vụ việc do mình làm vì họ cho rằng : không ai đánh giá mình làm không đạt chất lượng cả. Do vậy, việc đánh giá chất lượng vụ việc TGPL chủ yếu do Trung tâm TGPL cử Trợ giúp viên đánh giá, thẩm định;
- Tại Khỏan 1 Điều 44 Luật TGPL quy định: “Trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày hòan thành vụ việc, người thực hiện TGPL phải bàn giao hồ sơ vụ việc TGPL cho tổ chức thực hiện TGPL”. Song, khi áp dụng trong thực tiễn những vụ việc tham gia tố tụng lại vướng mắc. Cụ thể, Vụ việc bào chữa hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL xong, quyết định hoặc bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng cả tháng sau người thực hiện TGPL mới nhận được quyết định, bản án đó. Do vậy, thời hạn bàn giao hồ sơ cho tổ chức TGPL (Trung tâm TGPL) chậm hơn so với thời gian mà điều luật quy định;
- Trong quá trình thực hiện vụ việc TGPL cho thấy không phải tất cả các vụ việc TGPL người được TGPL đều tỏ ra hài lòng. Vì người thực hiện TGPL ngòai việc thực hiện vụ việc TGPL phù hợp với đạo đức xã hội còn phải tuân theo pháp luật. Chính vì vậy, đôi khi nội dung diễn biến vụ việc của người được TGPL yêu cầu, cung cấp các giấy tờ, thông tin có liên quan đối chiếu với qui định của pháp luật thì họ bất lợi, nhưng khi người thực hiện TGPL tư vấn, giải thích đúng sai thì họ lại phản ứng và tỏ thái độ không hài lòng cứ cho việc họ yêu cầu là đúng, thậm chí có trường hợp phản ứng gay gắt, thiếu tôn trọng…. Như vậy, nếu áp dụng quy định tại Khỏan 4 Điều 8 của Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL thì khó mà đánh giá sự hài lòng của người được TGPL được.
* Đề xuất kiến nghị:
- Mặc dù Thông Tư Liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định về TGPL trong họat động tố tụng đã có hiệu lực pháp luật nhưng khi áp dụng trong thực tiễn thì cơ quan tiến hành tố tụng đôi lúc còn thiếu thiện chí gây khó khăn trong thủ tục cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa, nhất là việc ra và gởi quyết định hoặc bản án vụ việc đã xét xử xong cho người thực hiện TGPL để người thực hiện TGPL hòan chỉnh việc lập hồ sơ gởi cho tổ chức thực hiện TGPL đúng thời hạn được qui định tại Khỏan 1 Điều 44 Luật TGPL. Vướng mắc này ít nhiều làm ảnh hưởng đến việc thời hạn bàn giao hồ sơ vụ việc đã hòan thành cho tổ chức TGPL để tổ chức TGPL đánh giá chất lượng vụ việc TGPL. Kính đề nghị Bộ Tư Pháp (Cơ quan thường trực của HĐPHLN về TGPL trong họat động tố tụng ở Trung ương) có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương, để từng ngành có hướng dẫn cho ngành mình thực hiện đồng bộhơn
* Một số giải pháp đảm bảo chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý
1. XD quy trình tiếp nhận và xử lý đơn yêu cầu TGPL. Phân công người thực hiện TGPL phù hợp với trình độ, năng lực….;
2. Giám sát việc thực hiện TGPL của Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên TGPL kịp thời chỉ ra những hạn chế trong quá trình thực hiện TGPL, có biện pháp hỗ trợ: tài chính, phương tiện, con người; thẩm định đánh giá chất lượng vụ việc TGPL;
3. Kiểm tra toàn bộ hồ sơ TGPL ngay sau khi đã hoàn thành. Kết hợp ý kiến phản hồi của người được TGPL, mức độ hài lòng của người được TGPL: về thái độ, tác phong phục vụ của người thực hiện TGPL. Qua đó, đánh giá được năng lực, phẩm chất đạo đức của Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL. Tìm ra những nguyên nhân, hạn chế, yếu kém dẫn đến chưa hoặc không đảm bảo chất lượng vụ việc TGPL;
4. Đưa ra khỏi danh sách CTV TGPL, những người kém năng lực, sa sút về đạo đức.
Tóm lại: Việc thực hiện TGPL có chất lượng không chỉ là tiêu chí bắt buột cho những người thực hiện TGPL, mà còn là tiêu chí của xã hội để đánh giá có kết quả các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa và sâu xa hơn là bảo đảm nhân quyền cho công dân trong xã hội nói chung và riêng đối với những nhóm người thuộc đối tượng yếu thế của xã hội trong việc tiếp cận với các dịch vụ pháp lý./.




.jpg)
0 nhận xét:
Đăng nhận xét