1. Thừa kế là gì ? ( Điều 631)
Theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì:
- Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật;
- Hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Có 02 hình thức thừa kế: Thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc.
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
+ Thừa kế theo di chúc:
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
2. Di sản (Điều 634):
- Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết;
- Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
3. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (Điều 637):
- Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.
- Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.
4. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm (Điều 641): về nguyên tắc thì những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm thì không được quyền thừa kế của nhau; BLDS năm 2005 đã mở ra trường hợp ngoại lệ đối với thừa kế thế vị, nhằm mục đích bảo đảm quyền thừa kế của gia đình dòng họ và chuyển di sản của họ cho người thừa kế gần nhất của mình. Như vậy, trong trường hợp ông và bố chết cùng thời điểm thì cháu vẫn được thừa kế di sản của ông mình.
5. Từ chối nhận di sản (Điều 642): Không phải di sản lúc nào cũng có người nhận. Nhằm bảo vệ quyền lợi của người thừa kế, trong trường hợp vì một lý do nào đó mà họ chưa kịp bày tỏ ý chí của mình là nhận hay không nhận thừa kế thì sau 06 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế, họ vẫn không mất đi quyền được nhận thừa kế của mình.
6. Tài sản không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước (Điều 644): Trong trường hợp sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận, thì di sản thuộc về Nhà nước. Điều này đã bảo vệ được quyền lợi của các chủ nợ cũng như những người có quyền lợi có liên quan đến tài sản có liên quan.
7. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế (Điều 645):
Với quy định mới đã làm rõ hơn về hai loại thời hiệu:
- Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế, bác bỏ quyền thừa kế;
- Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản.
Việc quy định như vậy không chỉ đảm bảo được tính ổn định trong giao lưu dân sự của người thừa kế mà còn phân biệt giữa các loại thời hiệu với nhau đó là: thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, xác nhận quyền thừa kế và bác bỏ quyền thừa kế là mười năm và thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ là ba năm.
8. Quyền của người lập di chúc (Điều 648): Đó là quyền được chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; chỉ định người giữ di chúc, quản lý di sản, người phân chia di sản thì quyền của người lập di chúc không bị bó hẹp trong quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản nữa, mà người lập di chúc có thể giao nghĩa vụ như chăm sóc cho bố, mẹ, ông, bà...hoặc có thể thoả thuận để thanh toán nghĩa vụ về tài sản cho mình vượt quá phần tài sản có của người lập di chúc để lại và được người thừa kế đồng ý.
9. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng (Điều 668) : Di chúc chung của vợ chồng là loại di chúc đặc biệt được xác lập do hai người có tài sản chung hợp nhất, cùng định đoạt chung. Theo đó, di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ chồng cùng chết.
10. Việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác (Điều 680): Di sản của người chết để lại là nguồn gốc để phát sinh tranh chấp xảy ra giữa bố mẹ chồng với con dâu, giữa bố mẹ vợ với con rể trong trường hợp người chồng hoặc người vợ chết trong giai đoạn đang giải quyết ly hôn tại Toà án. BLDS năm 2005 đã xác định rõ hơn cho dù rằng vợ chồng đang có vấn đề không thể chung sống với nhau, có đơn kiện tại Toà xin ly hôn hay được Toà cho ly hôn nhưng chưa có hiệu lực pháp luật thì quyền thừa kế của người còn lại (nếu người kia chết) vẫn được bảo vệ. Điều 680 BLDS quy định: "vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Toà án cho ly hôn bằng một bản án hoặc bằng Quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản". Quy định này đã tháo gỡ nhiều sự thắc mắc và tránh được những vụ tranh chấp đáng tiếc xảy ra. Hơn nữa, về lý luận thì quan hệ thừa kế của vợ và chồng được xác định trên cơ sở hôn nhân, vì vậy tại thời điểm mở thừa kế nghĩa là có một bên vợ hoặc chồng chết mà cuộc hôn nhân đó vẫn còn, thì người còn lại vẫn được hưởng di sản của người đã chết hay nói một cách khác là họ có quyền thừa kế của nhau. Quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt khi nào có Quyết định hoặc Bản án của Toà án đã có hiệu lực
11. Hạn chế phân chia di sản (Điều 686): Để phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, BLDS năm 2005 đã quy định: "Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc bên chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong thời hạn nhất định, nhưng không quá ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế". Với thời hạn là ba năm không được chia di sản đã hạn chế được những người thừa kế vì đồng tiền mà đánh mất đi tình cảm tốt đẹp của mình, đã bắt bố hoặc mẹ hoặc người thân của mình phải bán di sản (ví dụ như: ngôi nhà nhỏ có cửa hàng kinh doanh, hoặc máy móc là công cụ sản xuất) là phương tiện kiếm sống duy nhất của người thân để chia thừa kế.
12. Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế (Điều 687): Đây là một Điều hoàn toàn mới được đưa vào BLDS năm 2005 nhằm giải quyết sự bất cập trong thực tiễn. Có những vụ kiện đòi thừa kế xảy ra đến hàng chục năm mà những người thừa kế vẫn yêu cầu chia di sản nhiều lần, trong khi khối di sản không chỉ đã bị biến đổi theo thời gian (được tôn tạo, sửa chữa) hoặc vì đập phá xây dựng mới, mà còn được mua đi bán lại nhiều lần. Quy định mới này đã giải quyết bằng cách không chia bằng hiện vật, mà thanh toán lại bằng tiền tại thời điểm mở thừa kế cho những trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế. Đây là giải pháp tối ưu, không chỉ bảo vệ quyền lợi cho người thừa kế mà còn tôn trọng tính ổn định trong giao dịch dân sự.
13. Vấn đề chứng thực của Uỷ ban cấp xã, phường, thị trấn và chứng nhận của công chứng Nhà nước
Do di chúc thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết nên dù rằng di chúc không có công chứng Nhà nước hay chứng thực của Uỷ ban cấp xã, phường, thị trấn nhưng nếu di chúc do chính tay họ viết nên thì vẫn được coi là hợp pháp nếu như họ tuân thủ những quy định tại Điều 653 BLDS năm 2005. Hơn nữa, đối với những người trên máy bay, trên tàu biển, trên các phương tiện giao thông,... hoặc là phạm nhân, họ có thể đưa cho người phụ trách chứng thực. Việc bỏ sự "độc quyền" trong chứng thực, chứng nhận của Uỷ ban các cấp và công chứng Nhà nước là bước cải cách hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc thi hành pháp luật.
Câu hỏi tình huống về pháp luật thừa kế
Câu 1: Năm 1997 ông Nguyễn Văn A kết hôn với bà Trần Thị B. Sau khi kết hôn tại Phù Mỹ, Bình Định, vợ chồng ông A và bà B chuyển vào Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh sống và làm việc. Năm 1998 bà B sinh được 01 cháu bé trai đặt tên Nguyễn Văn C. Năm 2000 bà B sinh 01 cháu bé gái đặt tên Nguyễn Thị Kim D. Trong thời gian chung sống, vợ chồng ông A đã tạo lập được 01 căn nhà cấp 4 tọa lạc số 298 Đinh Tiên Hoàng, Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh; một mảnh đất thổ cư tọa lạc tại Quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 200 m2. Năm 2011, ông A mắc căn bệnh ung thư, trong lúc hấp hối ông A đã lập di chúc miệng, nội dung di chúc miệng gồm:
- Để lại ½ ngôi nhà tọa lạc số 298 Đinh Tiên Hoàng, Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cho bà B được quyền sở hữu sau khi ông qua đời;
- Để lại ½ diện tích đất thổ cư tọa lạc tại Quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh cho em trai ông được quyền sử dụng sau khi ông qua đời.
Hỏi theo quy định của pháp luật, di chúc miệng có hợp pháp luật không. Các con của ông A có được hưởng phần di sản của cha mình để lại không?
Trả lời:
Khoản 5, Điều 652 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: ‘Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực’.
Căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, di chúc miệng của ông A được coi là hợp pháp khi ông A lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người này ghi chép lại nội dung và ký tên. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày ông A thể hiện ý chí cuối cùng, di chúc miệng phải được công chứng hoặc chứng thực.
Điều 669 Bộ luật dân sự 2005 quy định: ‘Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động’.
Tại thời điểm ông A lập di chúc miệng để lại phần di sản của mình cho người khác, các con của ông A chưa đủ 18 tuổi. Mặc dù, trong di chúc ông A không để lại phần di sản của mình cho các con nhưng theo quy định của pháp luật dân sự các con của ông A được hưởng phần di sản của cha mình bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật. Như vậy các con của ông A có quyền thừa hưởng phần di sản của cha để lại.
Câu 2: Cụ Nguyễn Phúc Đường, sinh năm 1919 có 02 bà vợ. Vợ cả tên là Kiếm sinh được một người con trai là ông Nguyễn Văn Sơn (sinh năm 1949) sau đó bà Kiếm bỏ nhà đi đâu không ai biết. Năm ông Sơn lên bốn tuổi, cụ Đường kết hôn với cụ Văn Thị Tụng sinh được hai người con Nguyễn Thị La và Nguyễn Công Nhuận. Vợ chồng cụ Nguyễn Phúc Đường có hai phần đất: phần thứ nhất có diện tích 615m2 do ông Nguyễn Phúc Đường đứng tên,vợ chồng ông Đường đã cho ông Sơn 330m2 cho ông Nhuận 285m2 cả hai đã bán cho người khác. Phần đất thứ hai có diện tích 1358m2 do bà Văn Thị Tụng đứng tên. Năm 1982 vợ chồng ông Đường cùng các con xây dựng nhà bốn giang cấp 4 và một số công trình khác. Năm 1986, vợ chồng ông Sơn được bố mẹ cho ra ở riêng, còn vợ chồng ông Nhuận vẫn ở chung với vợ chồng ông Đường tại ngôi nhà xây trên đất đứng tên bà Văn Thị Tụng. Năm 1997 cụ Văn Thị Tụng chết không để lại di chúc. Năm 1999 cụ Nguyễn Phúc Đường chết không để lại di chúc.
Sau khi ông Nguyễn Phúc Đường chết ông Nguyễn Văn Sơn yêu cầu ông Nguyễn Công Nhuận chia cho ông một phần đất trong phần đất 1358m2 và các tài sản khác do bố mẹ để lại.
Ông Nguyễn Công Nhuận không đồng ý chia tài sản cho ông Sơn. Ông Nhuận cho rằng phần đất 1358m2 ông đang quản lý và sử dụng là do mẹ của ông mua của ông Văn Danh Mạc anh cụ Tụng để làm của riêng. Do đó ông Sơn không phải là con ruột của cụ Tụng và khi cụ Tụng còn sống ông Sơn không có trách nhiệm nuôi dưỡng gì nên không được hưởng phần di sản này.
Bà Nguyễn Thị La đồng ý ý kiến như ông Nguyễn Công Nhuận không chấp nhận yêu cầu của ông Sơn về chia thừa kế tài sản của mẹ bà để lại.
Vụ việc đã được UBND xã Hoài Hương, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định hòa giải nhưng không thành.
Năm 2012 ông Nguyễn Văn Sơn yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế do bố mẹ ông (Nguyễn Phúc Đường và Văn Thị Tụng) để lại do ông Nguyễn Công Nhuận đang quản lý. Hỏi theo quy định của pháp luật dân sự, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu. Trường hợp hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, ông Sơn yêu cầu chia tài sản chung có được không?
Trả lời : Điều 645 Bộ luật dân sự 2005 quy định : ‘Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế...’
Năm 1997 cụ Văn Thị Tụng chết, năm 1999 cụ Nguyễn Phúc Đường chết không để lại di chúc. Năm 2012 ông Nguyễn Văn Sơn yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế do bố mẹ ông để lại. Theo quy định của pháp luật dân sự, thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Trong trường hợp này, thời hiệu yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế đã hết, vì vậy Tòa án sẽ không thụ lý đơn khởi kiện của ông Sơn.
Căn cứ Nghị Quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao ngày 10/8/2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình:
Ông Sơn có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung khi thỏa mãn các điều kiện sau:
- Hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế;
- Các đồng thừa kế đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia và chuyển di sản đó thành tài sản chung của các thừa kế.
Câu 3: Năm 1980 ông Lê Văn Nam kết hôn với bà Nguyễn Thị Sen, có 04 người con gồm Lê Văn Hải, Lê Văn Thống, Lê Thị Tuyết Mai và Lê Văn Cường. Trong quá trình chung sống vợ chồng ông Nam đã tạo dựng được một khối tài sản gồm: 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 150 m2, 02 chiếc xe hon đa hiệu wave, 10 con bò và 02 con trâu. Năm 2000 anh Lê Văn Hải con trai của ông Nam kết hôn với chị Trần Thị Kim Tuyến. Sau khi kết hôn vợ chồng anh Hải sống chung nhà với ông Nam và bà Sen, có 02 người con gồm Lê Văn Công và Lê Thị Loan. Năm 2010 anh Hải bị tai nạn giao thông và chết. Năm 2011 ông Lê Văn Nam đau bệnh qua đời không để lại di chúc. Hỏi theo quy định của pháp luật, 02 người con của anh Hải có được thừa hưởng phần di sản của ông Nam để lại không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005 về hàng thừa kế theo pháp luật theo thứ tự sau đây :
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Như vậy, trong trường hợp nầy anh Hải đã chết nên không được hưởng phần thừa kế của người để lại di sản. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 677 Bộ luật dân sự 2005 thì : ‘Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống’.
Như vậy, theo quy định pháp luật nêu trên, 02 người con của anh Hải được hưởng thừa kế phần di sản của ông Nam để lại theo pháp luật. Đây là trường hợp được hưởng thừa kế thế vị. Trong trường hợp này anh Hải là người thừa kế phần di sản của cha mình để lại nhưng anh chết trước ông Nam, do đó phần di sản của ông Nam để lại sẽ được 02 người con của anh thừa hưởng theo pháp luật.
Câu 4: Năm 1975 ông Trần Văn A chung sống với bà Nguyễn Thị B và có chung với nhau 02 người con. Do mâu thuẫn trong cuộc sống, ông A đã bỏ bà B và 02 con đi nơi khác sống. Năm 1990, ông A kết hôn với bà C và có chung với nhau 03 người con. Trong quá trình chung sống, ông A và bà C tạo lập được một khối tài sản gồm:
- Một ngôi nhà cấp 4, diện tích 200 m2 tọa lạc tại tổ 20, khu vực 4, phường Bùi Thị Xuân, thành phố Quy Nhơn, Bình Định. ( Nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu do ông A đứng tên chủ sở hữu)
- Một ao cá diện tích 1000 m2 tọa lạc tại khu vực 8, phường Bùi Thị Xuân, thành phố Quy Nhơn, Bình Định.
Năm 2009 ông A bị tai nạn và chết trên đường đưa đến Bệnh viện cấp cứu. Năm 2010, hai người con riêng của ông A đến yêu cầu bà C chia phần di sản của ông A để lại. Hỏi theo quy định của pháp luật, 02 người con riêng của ông A có được hưởng phần di sản của ông A để lại theo quy định của pháp luật không?
Trả lời:
Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005 quy định :
‘1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản’.
Căn cứ theo quy định pháp luật nêu trên, hai người con riêng của ông A được quyền hưởng phần di sản của cha mình để lại theo pháp luật vì họ là con đẻ của ông A thuộc hàng thừa kế thứ nhất quy định tại điểm a, Khoản 1, Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005.
Câu 5: Năm 1975 anh Nguyễn Hạnh kết hôn với chị Lý Thị Hoàng. Sau khi kết hôn, cha mẹ anh Hạnh cho 02 vợ chồng 01 mảnh đất xây dựng nhà ở. Anh Hạnh và chị Hoàng có 05 người con. Do mâu thuẫn trong cuộc sống, năm 1995 anh Hạnh và chị Hoàng đã ly hôn. Tòa án nhân dân huyện A giao cho anh Hạnh được quyền sử dụng đất ở, diện tích 269 m2. Năm 1998 anh Hạnh kết hôn với chị Huỳnh Thị Hoa và có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thuý Hậu – sinh năm 1999 và cháu Nguyễn Thị Hằng – sinh năm 2002, tài sản vợ chồng tạo lập được gồm: 01 căn nhà cấp 4 trên diện tích 269m2, loại đất ở, nằm trên thửa đất số 462, tờ bản đồ số 1 xã Bình Tân, toạ lạc tại thôn Đông Bình, xã Bình Tân, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định và một số đồ dùng sinh hoạt khác trong gia đình gồm: 01 bộ sa lông; 01 tủ thờ bằng gỗ; 01 ti vi 21 Inch; 01 dàn Karaoke; tăng âm loa thùng; 01 bếp ga; 01 tủ sắt; 01 bàn học và một số bàn ghế nhựa. Số tài sản này vợ chồng chị Hoa quản lý, đến năm 2007 anh Nguyễn Hạnh bị tai nạn giao thông chết nên Nguyễn Văn Hải con riêng (đời trước) của anh Hạnh chiếm đoạt toàn bộ tài sản và nhà, đuổi 3 mẹ con chị Hoa ra khỏi nhà.
Nay chị Hoa yêu cầu chia thừa kế ngôi nhà, đất và buộc ông Hải phải giao trả lại số tài sản sinh hoạt trong nhà cho chị. Vì hiện nay Nguyễn Văn Hải quản lý không cho chị vào nhà. Hỏi theo quy định của pháp luật, chị Hoa và 02 con có được hưởng thừa kế phần di sản của anh Hạnh để lại?
Trả lời:
Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005, những người sau đây thuộc hàng thừa kế theo pháp luật: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Trong trường hợp này, anh Hạnh bị tai nạn giao thông chết không lập di chúc để lại di sản của mình cho người khác, do đó khối di sản của anh Hạnh để lại được chia theo pháp luật. Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005, chị Hoa và 02 con của chị được quyền hưởng phần di sản của anh Hạnh để lại, cụ thể :
Khối tài sản chung của anh Hạnh và chị Hoa gồm : ngôi nhà cấp 4 và một số đồ đạc, tài sản sinh hoạt trong gia được chia đôi.
Khối tài sản riêng của anh Hạnh gồm ½ căn nhà cấp 4, diện tích đất ở 269 m2 và ½ tài sản, đồ đạc chung với chị Hoa. Tổng cộng giá trị phần di sản của ông Hạnh được chia thừa kế cho 08 người ( 05 đứa con riêng của ông Hạnh với bà Hoàng ; bà Hoa và 02 đứa con chung của bà với anh Hạnh)./.




.jpg)
0 nhận xét:
Đăng nhận xét