Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

KỸ NĂNG HÒA GIẢI TRONG HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
     Huỳnh Văn Chưa
Giám đốc Trung tâm TGPLNN tỉnh Bình Định

          I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
  1. Khái niệm:  Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn;Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này;
 Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn, nghĩa vụ và quyền giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, cấp dưỡng, xác định cha, mẹ, con, con nuôi, giám hộ, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
2. Nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh: Luật hôn nhân và gia đình có nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
Luật hôn nhân và gia đình quy định chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm 13 chương với 110 điều.
II. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH :
1.Khái niệm kết hôn:   Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn;
2. Các điều kiện kết hôn: Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở; Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này.
3. Thẩm quyền đăng ký kết hôn: Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Namvới nhau ở nước ngoài.
4. Quan hệ vợ chồng: Quan hệ về tình nghĩa vợ chồng, về nghĩa vụ, về tài sản chung của vợ chồng hoặc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
5. Quan hệ giữa cha, mẹ và con: Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
 Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.
6. Quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa anh, chị, em và giữa các thành viên  trong gia đình
a. Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 48 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.
b. Cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại.
c. Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
7. Nghĩa vụ và quyền giữa cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình:
a. Nghĩa vụ và quyền về nhân thân giữa cha mẹ và con.  Nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa cha mẹ và con. Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Căn cứ hạn chế quyền của cha mẹ đối với con. Phạm vi hạn chế quyền của cha mẹ đối với con. Quyền yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con. Hậu quả pháp lý của việc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con. Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.
 b. Các thành viên cùng sống chung trong gia đình đều có nghĩa vụ quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình, đóng góp công sức, tiền và tài sản khác để duy trì đời sống chung phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mình. Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau. Quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
 Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.

8. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên gia đình:
a.  Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.  Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.
b. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà trốn tránh nghĩa vụ đó thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Luật này.
9. Các trường hợp chấm dứt hôn nhân: Chấm dứt hôn nhân do sự kiện chết của vợ chồng hoặc chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn.
Khái niệm ly hôn: Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng. Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hai hình thức: Bản án hoặc quyết định. Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì Toà án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định. Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn. Việc ly hôn phải do vợ hoặc chồng hoặc cả hai bên yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết.
10. Hậu quả pháp lý của ly hôn : Bao gồm các quan hệ về nhân thân; Quan hệ tài sản. Trong đó thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản khi ly hôn; Giải quyết việc cấp dưỡng cho vợ, chồng khi ly hôn; Giải quyết quyền lợi con chung;  Xác định bên trực tiếp nuôi con và thay đổi người trực tiếp nuôi con; Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cha mẹ khi ly hôn;  Quyền thăm nom con sau ly hôn
11. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: là quan hệ hôn nhân và gia đình:  Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;  Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
12. Thẩm quyền đăng ký kết hôn:
a.  Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam. Việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ giữa công dân Việt Namcư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Namdo Chính phủ quy định.
b. Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn, giải quyết các việc về nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia, nếu việc đăng ký, giải quyết đó không trái với pháp luật của nước sở tại; có trách nhiệm thực hiện việc bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
13. Ly hôn có yếu tố nước ngoài: Là việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Namđược giải quyết theo quy định của Luật này.  Trong trường hợp bên là công dân Việt Namkhông thường trú tại Việt Namvào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam.  Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.  Bản án, quyết định ly hôn của Toà án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

14. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: Người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam hoặc nhận trẻ em nước ngoài thường trú tại Việt Namlàm con nuôi phải tuân theo quy định của Luật này và quy định trong pháp luật của nước mà người đó là công dân về điều kiện nhận nuôi con nuôi. Việc công dân Việt Namnhận trẻ em là người nước ngoài làm con nuôi đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được công nhận tại Việt Nam. Trong trường hợp việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo quy định của Luật này.  Trong trường hợp việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được thực hiện tại nước ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú của con nuôi.

PHẦN THỨ HAI
HÒA GIẢI TRONG HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

          I. MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN DỄ DÂN ĐẾN ĐỔ VỠ CỦA HÔN NHÂN-GIA ĐÌNH:
         
Gia đình là tế bào của xã hội. Hôn nhân tốt đẹp có thể là gia đình tốt đẹp. Từ đó có thể kéo theo nhiều ảnh hưởng tốt đẹp khác như con cái vui tươi, tiến bộ; gia đình phát đạt, hạnh phúc. Một xã hội phồn vinh không thể thiếu yếu tố gia đình hạnh phúc. Một xã hội giàu mạnh trong đó có phần đóng góp tích cực của gia đình hạnh phúc, phát triển. Ngược lại một khi hôn nhân gia đình đổ vỡ là kéo theo cả một hệ lụy khôn lường. Đó là cả một vấn đề không chỉ có hậu quả của từng thành viên trong gia đình ấy gánh chịu mà còn là lệ lụy của xã hội. Thực tế đã cho thấy, phần lớn các vụ trẻ em hư, người chưa thành niên vi phạm pháp luật đều có yếu tố của gia đình. Chủ yếu là cha mẹ ly hôn, cha hoặc mẹ chết người còn lại đi lấy chồng hoặc có vợ khác, bỏ con bơ vơ ( điển hình có thể thấy diễn viên Lê Công Tuấn Anh nổi tiếng một thời, cha mẹ ly hôn, mỗi người tự tìm lấy cho mình một chân trờ hạnh phúc mới, bỏ lại đứa con chưa được 10 tuổi trên trường đời, với nhiều phức tạp của xã hội. Từ đó Lê Công Tuấn Anh phải làm đủ mọi thứ để sống, sau đó kể cả vào Trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi...để kết cục cuối cùng bi thảm là phải tự tử với nhiều nguyên nhân, trong đó có thể có nguyên của gia đình không bền vững).
Là Hòa giải viên, trong trường hợp phải tham gia hòa giải về hôn nhân gia đình, trước hết cần phải tìm hiểu kỹ về các nguyên nhân dân đến hạnh phúc gia đình bị đe dọa, có thể đi đến đổ vỡ. Không thể chỉ nghe một phía hay có cảm tình một bên để rồi khi đi vào hòa giải không giải nói lên được căn cơ, nguồn gốc, bản chất của vấn đề. Điều nầy không chỉ gây phản ứng tiêu cực của một trong hai bên và cũng không loại trừ cả hai bên. Bỡi vì tự ái của người trong cuộc, có thể cho rằng người làm công tác hòa giải thiên vị, thiếu công tâm, không sâu sát hay bên vực người kia. Do vậy, trước khi đi tiếp nhận vụ việc hòa giải, điều cần thiết trước hết là Hòa giải viên phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân dẫn đến hôn nhân gia đình bị rạn nứt, để từ đó có thể đưa ra phương pháp xử lý thấu lý, đạt tình. Đạt mục đích cuối cùng là gia đình hòa thuận, con cái chăm ngoan, ông bà vui vẻ.
Có rất nhiều nguyên nhân trong các trường hợp gia đình rạn nứt có thể dẫn đến ly hôn. Chúng tôi xin điểm qua một số nguyên nhân như sau:
1. Kinh tế gia đình ngày càng thiếu thốn: Khi hai người đến với nhau, hoặc do có sự tác động của gia đình hai bên cha mẹ, nên chưa có dịp tìm hiểu nhau kỹ càng, nhất là trong công việc làm ăn. Do vậy, lúc mới về ở với nhau có thể còn có sự san sẻ của gia đình hai bên cha mẹ. Nhưng nếu gia đình hai bên cũng quá nghèo, vợ chồng lại không có công việc làm ổn định, khi cần thiết chi tiêu về vấn đề gì, thì không có tiền. Nhất là khi đã sinh con. Sự túng thiếu ngày càng trầm trọng, cũng dễ dẫn đến gây chán nản. Trong trường hợp nầy cũng có thể chồng chối bỏ trách nhiệm và ngược lại có thể vợ cũng thường hay là chửi chồng, không biết lo cho vợ con. Sự túng thiếu càng ngày càng gia tăng, chính là áp lực khó có thể hàn gắn hạnh phúc gia đình được. Từ đó, sự hằn học của mỗi người, mỗi ngày càng khắc sâu vào nhau, dẫn đến hệ lụy sự cách biệt giữa vợ chồng ngày càng rõ rệt. Điều đó dẫn đến hôn nhân đổ vỡ là điều khó tránh khỏi. Có thể nói, đã qua rồi cái thời kỳ: Một túp liều tranh hai trái tim vàng”. Bỡi cơ chế thị trường, cùng với công ăn, việc làm ngày càng khó khăn. Đất đai chật hẹp, môi trường cuộc sống không thể cho phép con người tự tạo cho mình một công việc lao động theo ý mình muốn để có thu nhập. Do vậy cho dù có lao động cật lực thì cũng không đủ cái ăn, cái mặc ngay cho bản thân, thì lấy đâu để lo cho vợ con. Ngược lại có người không lo làm ăn, chỉ lo nhậu nhẹt, say sưa, gia đình ngày càng khánh kiệt, không thể có gì bù đắp hay cứu vãn. Một khi điều nầy nảy sinh, thì hạnh phúc bị đe dọa nghiêm trọng và sự đổ vỡ sẽ rất khó hàn gắn lại được. Có thể nói, đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Nguyên nhân nầy, một khi xuất hiện thì rất khó có thể hàn gắn lại được. Do vậy, những người trong cuộc trước khi đặt vấn đề với nhau, hãy tìm hiểu kỹ và tự đưa ra câu trả lời cho mình, trước khi đến với nhau.
2. Về tình dục: Có thể nhiều người cho rằng tình dục chỉ là thứ yếu, thì đây có thể là nhận thức sai lầm. Con người, trước hết vẫn là “CON”. Đó là bản năng sinh tồn của các loài động vật nói chung. Yêu càu thỏa mãn về tình dục của bất kỳ loại động vật nào có thể cũng như nhau. Những riêng con người, không thể đánh đồng nhu cầu về tình dục của con người như con vật được. Mà con người là đã qua quá trình tổng hòa của mọi mối quan hệ xã hội. Hay nói cách khác con người có ý thức cao hơn con vật. Biết chọn lọc, tinh tế, biết ứng xử. Đó chính là “NGƯỜI”. Những điều trước hết vẫn phải tính đến bản năng của “CON”. Do vậy ông bà ta ngày xưa có câu: “Nam tích khí thành châu. Nữ tích khí thành sầu”. Có thể hiếu rằng khi vợ chồng không được quan hệ tình dục dễ dẫn đến cáu bẩn, khó chịu. Điều nầy nếu tích tụ lâu ngày trở thành phức tạp. Cái khác của CON NGƯỜI và CON VẬT là ở chỗ con vật thực hiện theo bản năng Thích thì làm. Còn con người theo suy nghĩ. Chính điều đó, không ai nói với ai điều gì. Nên tích tụ và sinh phức tạp Lâu ngày tư tưởng, tình cảm sẽ có nhiều diễn biến tâm lý khác nhau, suy diễn khác nhau. Từ đó cũng dễ dẫn đến hệ lụy trong hôn nhân gia đình.
3. Ghen: Có nhiều trường hợp vợ hoặc chồng có thể vì quá thương yêu người kia nên cũng dẫn đến ghen tuông. Gặp vợ hoặc chồng có biểu hiện gì khác thường là ghen. Vợ hoặc chồng sắm sửa cho mình là ghen.  Có người mỗi khi nhìn thấy vợ hay chồng gặp người quen chào hỏi, hay cười đùa với nhau cũng ghen. Có thể nói đó là bệnh ghen cũng được. Đành rằng ông bà ta có câu: “ Có thương thì mới có ghen. Không thương ai ở bạc đen mặc lòng” Nhưng nếu ghen quá thành bệnh và người kia nếu không hiểu và thông cảm, không biết ý để chìu lòng nhau, cũng đến dẫn đến đổ vỡ hạnh phúc gia đình. Đã có không ít trường hợp ly hôn về việc nầy. Mặc dù khi ly hôn hai người có thể vẫn còn có tình cảm yêu thương nhau. Nhưng có thể do tự ái, có thể vì sự thầm kín của riêng tư nên không thể nói ra được, để mọi người biết mà cảm thông, chia sẻ.
4. Tính khí gia trưởng của người chồng: Do quan niệm phong kiến vẫn cồn tồn tại trong mỗi con người, nên trong một số trường hợp có sự đối xử với nhau giữa vợ chồng, chẳng khác gì như người ăn, kẻ ở. Người vợ là người phải có trách nhiệm chăm sóc cho chồng, lo cho chồng, con và gia đình nhà chồng. Với đạo lý về tam tòng, tứ đức: “ Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Phải là: “Công, dung, ngôn, hạnh”. Điều đó là hết sức sai lầm và tai hại. Bỡi ngày xưa, khi người phụ nữ không có vị trí gì trong tất cả các mặt của đời sống xã hội, kể cả chính trị, học hành, lao động... Việc người phụ nữ đi lấy chồng là lo cho nhà chồng. Còn ăn, ở đời sống...đều do chồng và phía nhà chồng lo toan. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội hiện đại. Khi vai trò của người phụ nữ trong xã hội ngày càng được nêu cao, Người phụ nữ lao động và thu nhập không chỉ ngang bằng với nam giới, đôi khi còn cao hơn, thì việc chăm sóc gia đình không thể chỉ có người phụ nữ lo toan được. Mà cần có sự chia sẻ, cảm thông từ hai phía. Nếu người đàn ông trong gia đình, chỉ giữ quan niệm như trên, một khi người phụ nữ không chịu đựng được nữa, thì việc dắt nhau ra tòa ly hôn là điều khó tránh khỏi.
5. Sức khỏe: Sức khỏe của vợ chồng, con cái là rất quan trọng. Một khi một trong hai người hoặc cả hai người có vấn đề về sức khỏe, thì hạnh phúc sẽ rất khó tròn vẹn. Ngoài việc không đủ tiền để chi phí cho việc thuốc men, trong khi đó thu nhập lại không có. Dễ dẫn đến tiêu cực trong cuộc sống. Nếu người vợ hoặc chồng không có sức khỏe mà người kia cứ phải lao động cật lực để lo cho gia đình, trong khi đó tâm lý bản năng con người không được khiêu gợi và động viên đúng lúc, một lúc nào đó cũng dễ dân đến một trong hai người sẽ bỏ nhau. Đời sống kinh tế khó khăn, sức khỏe ngày càng giảm sút, đời sống tình dục hầu như không còn, thì hai người sống bên nhau để làm gì? Có thể cũng có một số trường hợp sống bên nhau để nương tựa và lấy đạo lý làm người để chăm lo nhau, nhưng sự chịu đựng sẽ bị bùng nổ, một khi có sự tác động của người thứ ba ngay tức khắc. Đây cũng là điều không thể nào hàn gắn nhau được, nếu như người còn lại không có sự cảm thông, chia sẻ sâu sắc, mà luôn giữ quan niệm của riêng mình, thì rất khó tồn tại hạnh phúc gia đình.
6. Sự quá tin tưởng vào nhau, nhưng thiếu sự chăm sóc nhau: Trong dân gian có câu: “ Tin bơm mất bò, tin học trò mất vợ”. Đành rằng, trong cuộc sống vợ chồng hàng ngày cần phải tin tưởng nhau, tôn trọng nhau. Nhưng nếu thiếu sự quan tâm, chăm sóc nhau cũng dễ dẫn đến sự đổ vỡ hạnh phúc gia đình.  Không thể có niềm tin bất kỳ nào mà không có sự kiểm chứng, nhất là ngày nay, khi mà các phương tiện thông tin đại chúng phát triển như vũ bão, sự lừa lọc hàng ngày đang diễn ra, rất khó biết được đâu là thật, đâu là giả để tránh, hay đề phòng. Do vậy, khi tin người bạn đời của mình cũng cần phải có sự quan tâm, chăm sóc nhau. Nếu chỉ vì tin tưởng hoàn toàn vào người bạn thân yêu của mình nào đó, một khi “ Lửa gần rơm…” thì có trách móc cũng không kịp níu kéo lại được nữa. Trường hợp nầy cũng có thể tha thứ cho nhau, nhưng trong thực tế cuộc sống rất khó tránh khỏi những mặc cảm, tội lỗi với nhau. Đã có nhiều trường hợp người vợ lỗi lầm không chịu nổi sự đay nghiến, “ tra tấn” về mặt tinh thần nên tìm đã đến cái chết hoặc phải bỏ ra đi, chỉ vì một lần lầm lỗi, do chồng quá tin bạn mình, mà mình thì thiếu kìm chế. Có thể vì cả tin, cũng có thể buông thả…
7. Sự coi thường nhau giữa một bên là gia đình giàu có, còn bên kia có thể nghèo hơn: Có thể khi yêu nhau, giữa hai người chưa có suy nghĩ nhiều về gia đình của nhau. Giàu nghèo đôi khi không cần phân biệt. Nhưng trong đời sống vợ chồng, một khi có vướng mắc xảy ra thì dễ có sự so sánh lẫn nhau. Từ đó, dẫn đến hệ quả là lòng tự trọng của con người trỗi dậy, sự tự ái ngày càng dâng cao, trong khi người kia ngày càng sống trên sự coi thường của người còn lại, do gia đình nghèo hơn gia đình mình. Thêm vào đó, sự tác động của cha mẹ hai bên, của bạn bè và sự thiếu tôn trong lẫn nhau cũng đến dẫn đến hệ quả của việc ly hôn. Đã có một số trường hợp gia đình người chồng nghèo hơn gia đình vợ. Khi cha mẹ hay anh em phía chồng đến ở thăm chơi, có một số người vợ có thể bản tính nhỏ mon, ích kỷ xem thường hoặc xoi mói nhau, sợ người chồng lấy đồ đạc đem cho. Tuy có thể không nói ra, nhưng thường xuyên diễn những hành động, đi lại dâm chân, đấm tay hay “ đá thúng, đụng nia”… Tuy không nói ra, nhưng mục đích là làm cho những người có mặt biết thái độ không thích của mình. Từ đó, dễ dẫn đến khoảng cách trong tìm cảm vợ chồng. Một khi có dịp là bùng phát ngay.
8. Không quan tâm chăm sóc bản thân mình: Đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân cũng dễ dẫn đến ly hôn. Một số người khi mới đến với nhau thường chăm sóc bản thân mình cho đẹp đẽ, thơm tho. Nhưng khi về ở với nhau rồi, với nhiều lý do khác nhau, có thể vì con cái, vì chăm lo đời sống kinh tế, vì bận bịu công việc xã hội…nên thường ít khi chăm sóc bản thân mình. Một khi có sự tác động từ môi trường bên ngoài, thì khoảng cách tình cảm dễ bị kéo giãn ra. Nhất là, khi đã là của nhau rồi thì không còn gì là điều bí mật. Sự tò mò, hiếu kỳ không còn là cái lý do để đến với nhau. Trong khi đó, bên ngoài gia đình ra xã hội với hàng loạt “mục tiêu di động” luôn sẵn sàng là “đối tác” thì cho dù là đàn ông hay đàn bà cũng rất khó chống chọi lại với sự cám dỗ tuy thường tình đó, nhưng lại rất có ý nghĩa. Do vậy, không riêng gì đàn ông hay đàn bà  với bất kỳ độ tuổi nào, nhất là khi càng già lại càng thích được khen, do vậy luôn phải chăm sóc mình và cho người của mình, có như vậy mới tạo sự gắn kết với nhau một cách bền vững, hạn chế sự xâm nhập từ bên ngoài hoặc có xâm nhập thì cũng dễ có phản ứng tâm lý so sánh giữa người của mình với bên đối tác.
9. Sinh con một bề, thường là con gái: Nhiều người vẫn còn mang trong người căn bênh phong kiến. Họ cho rằng “ Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Cho dù chỉ là một người con trai duy thì mới gọi là có con, còn có hàng chục con gái vẫn như không có con, vì con gái rồi sẽ về nhà chồng, chăm sóc bên chồng, lo toan mọi việc bên nhà chống. Một số ngư dân vùng biển nếu không có con trai để đi làm biển, để nắm giữ khối tài sản cả đời dành dụm được, thì không ít người bằng mọi cách phải tìm con trai hoặc là bỏ vợ để đi cưới vợ khác, kiếm con trai nỗi dõi tông đường. Có thể nói rằng, quan niệm nầy ngoài tư tưởng phong kiến ra, còn có thể xuất phát từ thực tiễn của cuộc sống nữa. Tuy nhiên, đã có không ít bi kịch khi chỉ chạy theo con trai, để ròi hạnh phúc gia đình tan vỡ, bản thân người đàn ông bị xem thường, một khi về già không ai muốn chăm sóc, vì đa bị hất hủi.
10. Không có con: Việc một số gia đình không có con cũng là nguyên nhân của việc ly hôn. Tuy nhiên việc ly hôn nầy cũng chẳng có hệ lụy gì lớn, song để lại tâm trạng nặng nề cho người phụ nữ. Đây cũng có thể là “Bản án” cô độc cho người phụ nữ, ngược lại nếu không kìm chế, tự buông thả mình thì chính người ấy cũng sẽ tự đánh mất mình. Cũng có một số cặp vợ chồng vì quá thương yêu nhau, họ đã chon giải pháp xin con nuôi. Hoặc chon một giải pháp nào đó cho “thấu lý đạt tình” mà hai bên cùng vui cẻ chấp nhận. Trong thực tiến cũng đã có một số cặp vợ chồng, mà người chồng không có con hoặc ngược lại đã ngầm đồng tình với vợ hoặc chồng trong việc tìm con cho gia đình. Đây là giải pháp có hậu và chính là sự tôn trọng lẫn nhau trong cuộc sống, nên mới đạt được “sự thỏa thuận” trọn vẹn.
Trên đây chỉ là một số rất ít nguyên nhân, lý do dẫn đến ly hôn, đổ vỡ hạnh phúc gia đình. Còn rất nhiều những nguyên nhân khác nữa. Do vậy, việc tìm đúng nguyên nhân của việc đổ vỡ hạnh phúc gia đình, thì việc hòa giải sẽ sớm có kết quả như mong muốn. Ngược lại nếu không tìm hiểu kỹ các nguyên nhận trước mắt, nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân thầm kín mà vội đưa ra giải pháp thì rất khó thành công.

PHẦN THỨ BA
TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN LY HÔN TỪ CÁC NGUỒN

          Để công tác hòa giải đem lại kết quả tốt đẹp, như mong muốn, với mục đích là hàn gắn vết thương của gia đình, để góp phần đem đến hạnh phúc cho một gia đình. Như ông bà ta xưa thường nói: “ Thà tử biệt, chá ai nỡ sanh ly”. Điều đó, đã nói lên ý nghĩa, giá trị của cuộc sống gia đình rất lớn lao. Do vậy, để góp phần hoàn giải thành, một khi có gia đình muốn ly hôn. Hòa giải viên cần phải:
           Tìm hiểu kỹ các nguyên nhân trước mắt, nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân thầm kín của những người trong cuộc để đưa ra ý kiến, giải pháp thỏa đáng, góp phần làm cho những người trong cuộc nhận ra những sai lầm thiếu sót của mình mà khắc phục và trở lại với nhau. Việc tìm hiểu nầy phải từ nhiều nguồn khác nhau, không thể chỉ nghe một phía, để rồi đi đến kết quả không như mong muốn. Việc tìm hiểu nầy có thể từ:
          1. Từ người vợ hoặc người chồng là nguyên đơn yêu cầu ly hôn để tìm hiểu lý do của việc ly hôn.
          2. Ngoài trường hợp trực tiếp trên, cần phải tiếp cận và tìm hiểu gia đình cha mẹ, anh em của cả hai bên. Để xem xét thái độ, tâm lý, tình cảm cũng như có sự tác động nào trước đó là nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn hay không?
          3. Từ các thành viên trực tiếp ở cùng nhà. Nhất là các con (nếu có con). Việc tìm hiểu thông qua các con cho dù các con đã trưởng thành hay còn ở với cha mẹ cũng là một trong những nguồn thông tin quan trọng, giúp cho người làm công tác hòa giải thành công.
          4. Tìm hiểu nguyên nhân thông qua bạn bè của cả hai bên. Qua đó xem xét thái độ, đồng thời cùng tìm hiểu xem nguyên nhân của việc ly hôn. Tuy đây là nguồn thông tin bên ngoài, nhưng cũng có thể góp phần quan trọng trong việc xác định đúng nguyên nhân, để đưa ra các giải pháp phù hợp.
          5. Cũng có thể tìm hiểu nguyên nhân xung đột của gia đình qua những người hàng xóm xung quanh gia đình.
          6. Trên cơ sở thu thập các dữ liệu của thông tin, xem xét cân nhắc để cử ra người có uy tín, đạo đức thực hiện việc hòa giải trong trường hợp nầy.
          Tùy thuộc vào độ tuổi của vợ chồng khi ly hôn mà cử Hòa giải viên cho phù hợp với tâm lý, tình cảm, đạo đức. Qua đó, sau khi tìm hiểu kỹ các nguyên nhân của việc ly hôn, Hòa giải viên chuẩn bị các phương pháp, tâm lý nhất là khêu gợi tình cảm lẫn nhau. Chủ yếu người làm công tác hòa giải phải biết rõ đặc điểm của buổi hòa giải, bố trí địa điểm, vị trí chỗ ngồi cho từng thành viên tham dự. Đối với những nguyên nhân sâu xa, thầm kín cần hết sức cẩn trọng, nếu không dễ làm họ bị tổn thương, gây tự ái và sẽ đi xa mục đích.
- Các trường hợp hòa giải trong hôn nhân, gia đình không nên có quá nhiều người tham dự, trong đó có những người nhỏ hay bằng độ tuổi với cặp vợ chồng đang ly hôn. Điều đó cũng dễ gây tâm lý tác dụng ngược và cuộc hòa giải cũng khó đạt được yêu cầu mong muốn.
- Không khí buổi hòa giải không nên để quá căng thẳng làm hiệu ứng tiêu cực dễ phát sinh, hòa giải không như mong muốn.
- Người làm công tác hòa giải cần hết sức bình tĩnh, lắng nghe, tôn trọng  ý kiến của các bên.  Hết sức tránh việc dễ làm cho họ hiểu lầm, người hòa giải có ý kiến thiên về một bên…
Trên đây là một số nội dung về Luật Hôn nhân và Gia đình và một số nội dung cơ bản trong việc góp phần hòa giải trong hôn nhân gia đình./.
          

0 nhận xét:

Đăng nhận xét