NHỮNG CÂU HỎI THƯỜNG GẶP TRONG THỰC TẾ
I. Đất đai:
Câu hỏi 1: Khi ông T chết có để lại thừa kế 1.000m2 đất trồng lúa do Nhà nước giao trong thời hạn 10 năm và cho anh B và chị C là người thừa kế theo pháp luật. Nhưng chị C cho rằng anh B là công chức nhà nước, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên không được quyền thừa kế 1.000m2 quyền sử dụng đất đó. Vậy ý kiến trên của chị C có đúng với quy định của pháp luật hiện hành hay không?
Trả lời 1: Tại khoản 3 Điều 103 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước.
Quy định trên chỉ không cho phép hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, mà không cấm quyền nhận thừa kế. Vì vậy, mặc dù anh B là công chức nhà nước, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp những vẫn có quyền nhận thừa kế đất trồng lúa cho ông T là bố anh để lại. Do đó ý kiến của chị C cho rằng anh B là công chức nhà nước, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên không được thừa kế quyền sử dụng đất là không đúng pháp luật hiện hành. Câu hỏi 2:Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp có được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận hay không? Hộ gia đình ông X được giao 1 hec-ta đất nông nghiệp xen kẽ trong khu vực rừng phòng hộ tại huyện Y tỉnh K. Do không có nhu cầu sử dụng nên gia đình ông đã quyết định chuyển nhượng cho anh T sống tại thành phố M. Vậy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa hộ gia đình ông X và anh T có được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận hay không?
Trả lời 2: Tại khoản 3 Điều 104 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ thì chỉ được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ đó.
Đối chiếu với quy định nêu trên, khi được giao 1 héc ta đất nông nghiệp xen kẽ trong khu vực rừng phòng hộ tại huyện Y tỉnh K thì hộ gia đình ông X chỉ được quyền chuyển nhượng đất đó cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ đó. Trong trường hợp nêu trên, do không có nhu cầu sử dụng nên gia đình ông đã quyết định chuyển nhượng cho anh T hiện sống tại thành phố M thì việc chuyển nhượng đó sẽ không được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.
Câu hỏi 3: Ông T có được tiếp tục quyền chuyển nhượng 5.000m2 đất rừng để sản xuất cho người khác không? Trước đây ông T đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trồng lúa đã được Nhà nước giao cho người khác. Nhưng sau đó gia đình ông T lại được Nhà nước giao 5.000m2 đất rừng để sản xuất. Vậy nay muốn chuyển đến nơi khác để làm ăn thì ông T có được tiếp tục quyền chuyển nhượng 5.000m2 đất rừng để sản xuất đó cho người khác hay không?
Trả lời 3: Tại khoản 1 Điều 104 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai quy định hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao đất lần đầu đối với đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất, đất ở được miễn tiền sử dụng đất mà đã chuyển nhượng và không còn đất sản xuất, không còn đất ở, nếu được Nhà nước giao đất lần thứ hai đối với đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất, đất ở được miễn tiền sử dụng đất thì không được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất trong thời hạn 10 năm kể từ ngày được giao đất lần thứ hai.
Đối chiếu với quy định nêu trên, hộ gia đình ông T sẽ được chuyển nhượng 5.000m2 đất rừng để sản xuất cho người khác nếu khi nhận đất rừng sản xuất hộ gia đình ông T có nộp tiền sử dụng đất. Trong trường hợp khi được giao đất, hộ gia đình ông T không nộp tiền sử dụng đất thì hộ gia đình ông T không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thời hạn 10 năm kể từ ngày được giao đất lần thứ hai. Nếu không nộp tiền sử dụng đất và thời gian nhận đất đã đủ 10 năm trở lên thì gia đình ông T cũng có quyền chuyển nhượng 5.000m2 đó cho cho người khác.
Câu hỏi 4: Năm 1993, tôi mua 200m2 đất, sau đó làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi như chủ cũ là đất vườn lâu dài. Năm 1995, tôi đã làm nhà kiên cố không còn vườn. Xin hỏi, liệu bây giờ tôi làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đất nhà tôi ghi là đất ở hay là đất vườn lâu dài như cũ?
Trả lời 4: Trước hết, nếu việc bà làm nhà phù hợp với quy hoạch tại khu đất sẽ làm đất ở thì trên giấy chứng nhận mới mà bà làm lại sẽ ghi là đất ở. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là để được ghi là đất ở thì cơ quan phải xác định lại mảnh đất mà chủ cũ bán cho bà. Nếu mảnh đất trên thuộc đất vườn mà được công nhận là đất ở theo Điều 87 của Luật Đất đai năm 2003 thì được ghi là đất ở trong giấy chứng nhận mới và bà cũng không phải nộp tiền khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn sang đất ở. Còn nếu đó là đất nông nghiệp, nay nếu ghi cho bà là đất ở thì bà phải nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất, từ đất nông nghiệp sang đất ở.
Câu hỏi 5: Năm 2002, tôi được Uỷ ban Nhân dân huyện cấp cho một miếng đất ở tại khu quy hoạch dân cư. Tháng 11/2003, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi đã nộp lệ phí và tiền đền bù và tiến hành san ủi mặt bằng để làm nhà ở thì bị một người cùng xã ngăn cản. Sau nhiều lần làm đơn lên xã, lên huyện đề nghị giải quyết nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Vậy tôi xin hỏi, vụ việc này được giải quyết ở cấp nào?
Trả lời 5: Ông cần làm rõ xem khi mà ông làm đơn lên xã thì xã đã tiến hành hoà giải chưa? Nếu xã đã hoà giải mà không thành thì theo quy định tại Điều 136 của Luật Đất đai năm 2003, ông gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Toà án nhân dân huyện để giải quyết. Xin đăng cụ thể Điều 136, Luật Đất đai năm 2003 để ông tham khảo:
Điều 136: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:
a) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;
b) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.
Câu hỏi 6: Tôi có mua một mảnh đất với diện tích 150m2, đất ruộng màu, diện tích này chủ cũ đã được cấp “sổ đỏ”. Nay tôi muốn tách “sổ đỏ” và chuyển thành đất thổ cư có được không? Nếu được chuyển sang đất thổ cư thì tôi phải nộp những khoản tiền gì và thủ tục tại đâu?
Trả lời 6: Để chuyển mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất nông nghiệp, cụ thể trường hợp của ông là từ đất trồng màu sang đất ở thì phải đảm bảo 3 điều kiện sau đây:
- Loại đất sau khi chuyển mục đích phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của xã, phường, thị trấn nơi có đất;
- Phải được Uỷ ban Nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi có đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
- Phải nộp tiền sử dụng đất.
Về trình tự, thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất: Theo quy định tại Điều 134 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai thì trình tự, thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân thực hiện như sau:
- Hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất:
Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất;
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1,2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 (nếu có)
- Nơi nộp hồ sơ: Người có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất nộp hồ sơ tại phòng Tài nguyên và Môi trường nơi có đất. Trường hợp được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì Phòng Tài nguyên và Môi trường gửi thông báo cho người sử dụng đất về mức tiền và nơi nộp tiền sử dụng đất.
- Trả kết quả: Trong thời gian không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày Phòng Tài nguyên và Môi trường nhận đủ hồ sơ hợp lệ (không kể thời gian người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính), người sử dụng đất đến Phòng Tài nguyên và Môi trường, nơi đã nộp hồ sơ để nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được chỉnh lý.
II. Hôn nhân gia đình:
Câu hỏi 7: Chị Q kết hôn với anh H đã gần 10 năm, sống chung với gia đình chồng. Trong thời gian chung sống, anh chị đã cùng quản lý, điều hành cửa hàng kinh doanh của gia đình thay cho cha mẹ chồng. Nhờ sự nhanh nhẹn, tháo vát của chị mà công việc kinh doanh khá phát đạt, anh chị đã xây dựng được ngôi nhà mới khang trang, mua sắm nhiều vật dụng, tiện nghi đắt tiền. Gần đây do việc làm ăn thua lỗ, giữa hai vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng gay gắt nên anh chị quyết định ly hôn. Tuy nhiên chị còn băn khoăn vì chưa biết Toà án sẽ giải quyết phần tài sản như thế nào vì bố mẹ chồng chị cho rằng khi lấy anh chị không có bất kỳ tài sản nào thì khi ly hôn cũng không được mang theo bất kỳ tài sản nào. Pháp luật hôn nhân và gia đình của nước ta quy định về vấn đề này như thế nào?
Trả lời 7: Để bảo vệ quyền lợi cho vợ, chồng khi sống chung với gia đình mà ly hôn, có tính đến công sức đóng góp thực tế của vợ, chồng, Điều 96 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định về việc chia tài sản trong trường hợp này như sau:
- Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
- Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.
- Như vậy, theo quy định của pháp luật, chị Q sẽ được hưởng tài sản trong khối tài sản của gia đình. Tuy nhiên, mức tài sản cụ thể là bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa chị và gia đình chồng hoặc quyết định của Toà án.
Câu hỏi 8: Chị L có phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con riêng của chồng không? Vợ chồng anh A ly hôn. Đứa con chung của vợ chồng anh sống với bố mẹ anh. Hàng tháng anh A có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người con chưa thành niên của mình. Sau một thời gian anh A kết hôn với chị L. Anh A chết đột ngột trong một vụ tai nạn giao thông. Hỏi chị L có phải thay anh A tiếp tục cấp dưỡng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con anh A không? Theo quy định của pháp luật nghĩa vụ dân sự chấm dứt trong các trường hợp nào?
Trả lời 8 : Theo Điều 374 Bộ luật dân sự 2005thì nghĩa vụ dân sự chấm dứt trong các trường hợp sau:
1. Nghĩa vụ được hoàn thành;
2. Theo thoả thuận của các bên;
3. Bên có quyền miễn thực hiện nghĩa vụ;
4. Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ dân sự khác;
5. Nghĩa vụ được bù trừ;
6. Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hoà nhập làm một;
7. Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự đã hết;
8. Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân, chủ thể khác chấm dứt mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân, chủ thể đó thực hiện;
9. Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân, chủ thể khác chấm dứt mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân, chủ thể khác;
10. Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ dân sự không còn và được thay thế bằng một nghĩa vụ khác;
11. Các trường hợp khác do pháp luật quy định. Điều 50 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác, vì vậy khi anh A chết thì nghĩa vụ cấp dưỡng của anh A đối với người con chưa thành niên cũng chấm dứt.
Câu hỏi 9: Nhận làm con nuôi được không ? Năm nay Y 18 tuổi, là cô gái nông thôn mồ côi bố mẹ từ khi mới tròn 6 tuổi. Trong thời gian qua, Y ở cùng gia đình bác ruột. Chị H là hàng xóm của gia đình Y, hơn Y 18 tuổi, thấy Y là cô gái chăm chỉ, nết na nên rất quý và muốn nhận làm con nuôi. Y và gia đình đều đồng ý. Khi ra UBND phường làm thủ tục đăng ký nuôi con nuôi thì được UBND phường trả lời là không đáp ứng đúng điều kiện. UBND phường trả lời như vậy đúng hay sai?
Trả lời 9: Uỷ ban nhân dân Phường trả lời như vậy là đúng. Vì theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Người được nhận làm con nuôi phải là người từ mười lăm tuổi trở xuống. Người trên mười lăm tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn”. Khoản 2 Điều 69 Luật này cũng quy định người nhận nuôi con nuôi phải “ hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên”.
Đối chiếu với các quy định trên đây, Y và chị H đều là những người hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, theo quy định của luật thì cả Y và chị H đều không đáp ứng đủ điều kiện về tuổi để nhận và được nhận làm con nuôi.
Câu hỏi 10: Khi đã chấm dứt việc nuôi con nuôi thì mọi quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng chấm dứt. đúng hay sai ?L được vợ chồng ông, bà D nhận nuôi từ lúc lên 5 tuổi, được cho ăn học đỗ đạt đến Tiến sỹ, hiện công tác tại Hunggari. Thương bố mẹ nuôi, anh chăm chỉ làm việc, dành dụm, tích góp tiền gửi về để bố mẹ có thêm tiền chi tiêu, chăm sóc sức khoẻ. Số tiền còn lại L nhờ bố mẹ nuôi mua được một ngôi nhà 4 tầng khang trang, đăng ký tên anh, để khi nào về nước L ở. Sợ khi L về nước, số tài sản này phảỉ trả lại cho L, các con đẻ ông bà D bàn với bố mẹ làm đơn xin chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với L với lý do con nuôi đã trưởng thành, có học hành đỗ đạt, có công ăn việc làm tử tế. Ông bà D không muốn vậy những các con ép quá đành phải nghe nhưng ông tuyên bố dứt khoát: Ngôi nhà và tài sản mua được từ tiền của L gửi về ông sẽ giao lại toàn bộ cho L. Các con ông không chịu và cho rằng: khi đã chấm dứt việc nuôi con nuôi thì mọi quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng hoàn toàn chấm dứt. Các con đẻ ông, bà D nói như vậy đúng hay sai.
Trả lời 10: Nếu việc nuôi con nuôi giữa L và ông bà D được Toà án nhân dân quyết định và quyết định có hiệu lực thì các quyền và nghĩa vụ giữa họ cũng chấm dứt (Theo quy định tại khoản 1 Điều 78 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000). Tuy nhiên tại khoản 2 Điều luật này cũng quy định rõ: “ trong trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản riêng đó; nếu con nuôi có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích một phần từ khối tài sản chung đó theo thoả thuận giữa con nuôi và và cha mẹ nuôi; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết”. Trong trường hợp trên, hành vi của các con đẻ ông bà D là sai. Theo quy định của pháp luật, toàn bộ tiền mua nhà là tiền của L gửi về theo đúng mục đích của anh. Ngôi nhà này cũng được đăng ký tên anh L, là tài sản của riêng anh. Anh L là chủ sở hữu. Dù việc nuôi con nuôi giữa anh và ông bà D chấm dứt thì anh vẫn có quyền được nhận lại số tài sản này.
Câu hỏi 11: Điều kiện kết hôn và thẩm quyền đăng ký việc kết hôn có yếu tố nước ngoài ? Tôi là công dân Việt Nam sắp kết hôn với một đồng nghiệp người Thuỵ Điển. Hiện chúng tôi đang sống và làm việc tại Việt Nam . Tôi muốn biết quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và thẩm quyền đăng ký việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để vận dụng trong trường hợp của mình?
Trả lời11: Điều 10 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài quy định:
1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; người nước ngoài còn phải tuân theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.
2. Trong việc kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam, trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân hoặc thường trú (đối với người không quốc tịch) về điều kiện kết hôn; ngoài ra, còn phải tuân theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn.
3. Thẩm quyền đăng ký kết hôn được qui định Điều 12 Nghị định số 68 như sau:
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Trong trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có hộ khẩu thường trú, nhưng đã đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về hộ khẩu thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi tạm trú có thời hạn của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký việc kết hôn giữa người đó với người nước ngoài.
Trong trường hợp người nước ngoài thường trú tại Việt Nam xin kết hôn với nhau thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của một trong hai bên đương sự thực hiện đăng ký việc kết hôn.
- Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước tiếp nhận nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài cư trú tại nước đó.
Như vậy, về điều kiện kết hôn, bạn là người Việt Nam nên phải tuân theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, người chồng tương lai của bạn là người Thuỵ Điển thì bên cạnh việc tuân theo pháp luật của Thuỵ Điển cũng đồng thời phải tuân theo pháp luật của Việt Nam về điều kiện kết hôn. Các bạn phải làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi bạn thường trú. Trong trường hợp bạn không có hoặc chưa có hộ khẩu thường trú, nhưng đã đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về hộ khẩu thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi tạm trú có thời hạn của bạn thực hiện đăng ký việc kết hôn.
Câu hỏi 12: Ông H phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi có vi phạm pháp luật không? Cháu P mồ côi cả cha lẫn mẹ, được ông H nhận làm con nuôi. Đến 11 tuổi, P vẫn chưa biết đọc biết viết. Nghe bạn bè khuyên, P về xin bố mẹ đi học nhưng ông H không đồng ý. Mọi người khuyên nhủ ông cũng không nghe mà còn cho rằng con nuôi không thể như con đẻ được; phải làm việc để các con đẻ ông đi học; được ông nuôi, cho ở, cho ăn là tốt rồi. Việc Ông H phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi có vi phạm pháp luật không?
Trả lời 12: Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Pháp luật nước ta không cho phép phân biệt đối xử giữa con đẻ, con nuôi. Con đẻ và con nuôi có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau. Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “ Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trong nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội . “Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng con chưa thành niên.
Khoản 3 Điều 67 Nghị định số 158 cũng quy định : “ Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác.”
Đối chiếu với các quy định trên thì: Việc ông H không cho con nuôi đi học và bắt làm việc để thay cho con đẻ mình đi học vừa trái với đạo đức xã hội vừa vi phạm luật pháp. Nếu ông không chấm dứt ngay hành vi phân biệt đối xử của mình đối với con nuôi thì ông phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
III. Quan hệ dân sự:
Câu hỏi 13:Về việc mở cửa sổ trông thẳng sang nhà hàng xóm? Gia đình ông A và bà B ở cạnh nhau. Ông A sửa nhà nâng thêm tầng và định mở thêm cửa sổ, nhưng vì cửa sổ trông thẳng sang nhà bà B nên các con bà B không đồng ý cho ông A mở thêm cửa sổ. Xin cho biết, pháp luật có quy định về vấn đề này không?
Trả lời 13: Khoản 1 Điều 271 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về vấn đề này như sau: Chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa ra vào, cửa sổ quay sang nhà bên cạnh, nhà đối diện và đường đi chung theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Quy chuẩn xây dựng Việt Nam về việc mở cửa ra vào, cửa sổ, cửa thông hơi quy định: Từ tầng 2 trở lên không được mở cửa ra vào, cửa sổ, trên các bức tường cách ranh giới đất với công trình bên cạnh dưới 2 mét. Khi cần mở cửa phải có biện pháp tránh tầm nhìn trực tiếp vào nội thất nhà bên cạnh. Có thể chắn tầm nhìn hoặc bố trí so le các cửa sổ giữa hai nhà.
Căn cứ quy định này, nếu việc ông A mở thêm cửa sổ trông thẳng sang nhà bà B gây bất tiện cho sinh hoạt gia đình của nhà bà B, thì các con bà B không đồng ý cho mở là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
Câu hỏi 14: Pháp luật quy định về vấn đề xây tường rào chung như thế nào? Nhà ông S và nhà bà L liền kề nhau, ranh giới giữa khoảng sân của hai nhà là một hàng rào râm bụt. Ông S xây lại nhà và có bàn với bà L là mỗi gia đình bớt một ít đất để xây tường rào chung, nhưng bà Lịch không đồng ý. Theo bà L, ông S muốn xây tường rào thì cứ xây trên phần đất nhà mình chứ không được lấn sang đất nhà bà. Ông S lại cho rằng vì lợi ích chung nên ông vẫn xây ở đúng vị trí của hàng rào râm bụt cũ. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về vấn đề này như thế nào?
Trả lời 14: Điều 266 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về quyền sở hữu đối với mốc giới ngăn cách các bất động sản như sau:
- Chủ sở hữu bất động sản liền kề chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình. Những người sử dụng đất liền kề có thể thoả thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn, trồng cây trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của những người đó.
Trong trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thoả thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn phải dỡ bỏ.
Đối với cây là mốc giới chung, các bên đều có nghĩa vụ bảo vệ; hoa lợi thu được từ cây được chia đều, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý.
Trong trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình. Đối chiếu quy định trên, nếu ông S và bà L không thoả thuận được với nhau về vị trí xây tường làm mốc giới ngăn cách giữa hai nhà, thì ông S chỉ được xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.
Câu hỏi 15: Cháu Hùng đùa nghịch làm cháu Sinh ngã gãy tay, Ai có trách nhiệm bồi thường cho cháu Sinh? Cháu Hùng (tám tuổi) đùa nghịch làm cháu Sinh (sáu tuổi) ngã gãy tay phải nằm viện để điều trị. Trong trường hợp này, ai có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho cháu Sinh?
Trả lời 15: Điều 606 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:
- Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
- Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật dân sự (Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý).
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Như vậy, trong trường hợp này cháu Hùng mới có tám tuổi nên cha mẹ cháu Hùng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho cháu Sinh.
Câu hỏi 16: Theo quy định của pháp luật việc tặng cho có phải lập thành văn bản không? Tôi được anh B hứa tặng cho một số tài sản có giá trị với điều kiện là tôi phải yêu cầu được ông D trả nợ cho anh B. Xin hỏi theo quy định của pháp luật việc tặng cho này có phải lập thành văn bản không? Anh B có quyền yêu cầu tôi thực hiện nghĩa vụ đó không? Trong trường hợp tôi đã yêu cầu được ông D trả nợ cho anh B nhưng anh B không tặng tôi số tài sản đó nữa thì quyền lợi của tôi được giải quyết như thế nào?
Trả lời 16: Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận.
Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực khi bên được tặng cho nhận tài sản; đối với động sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.
Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu. Như vậy, theo quy định của pháp luật chỉ trong trường hợp tài sản tặng cho là bất động sản thì việc tặng cho phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.
Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.
Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Như vậy, anh B có thể yêu cầu bạn thực hiện nghĩa vụ trên, vì điều kiện tặng cho này không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Trong trường hợp bạn đã yêu cầu được ông D trả nợ cho anh B, nhưng anh B không giao tài sản đã hứa tặng bạn thì anh B phải thanh toán nghĩa vụ mà bạn đã thực hiện.
Câu hỏi 17: Hợp đồng này phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản có đúng không?Ông A tặng cho người cháu quyền sử dụng một mảnh đất. Việc tặng cho này có lập thành văn bản. Hợp đồng này phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản có đúng không?
Trả lời 17: Theo quy định tại Điều 405 Bộ luật dân sự năm 2005 thì hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Như vậy, về nguyên tắc, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính từ thời điểm giao kết hợp đồng (đối với hợp đồng bằng lời nói, thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung hợp đồng; đối với hợp đồng bằng văn bản, thời điểm giao kết là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản). Tuy nhiên, trong trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác thì khi xem xét hiệu lực của hợp đồng phải căn cứ vào thoả thuận hoặc quy định đó.
Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật về dân sự và đất đai thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.
Câu hỏi 18: Theo quy định của pháp luật thì việc làm của anh H đúng hay sai? Nhà ông H ở phía trong, nhà ông S ở phía ngoài. Theo thoả thuận ông S dành cho ông H một lối đi ra đến đường công cộng và ông H đã thanh toán cho ông S một khoản tiền. Nhưng khi ông S bán ngôi nhà của mình cho anh K thì anh K lại không đồng ý cho ông H sử dụng lối đi đó nữa. Theo quy định của pháp luật thì việc làm của anh H đúng hay sai?
Trả lời 18: Điều 173 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
Người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thoả thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật.
Các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề; các quyền khác theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Việc chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu tài sản cho người khác không phải là căn cứ để chấm dứt các quyền trên của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản. Đối chiếu với các quy định trên, việc ông S bán nhà cho anh K không làm chấm dứt quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề của ông H. Việc làm của anh K trái với quy định của pháp luật hiện hành.
Câu hỏi 19: Hỏi anh A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh K không? Anh A cho anh K mượn chiếc xe máy. Mặc dù biết phanh xe đã mòn nhưng khi cho mượn anh A không báo cho anh K biết điều này. Do phanh xe bị mòn nên anh K không làm chủ được tốc độ đã bị ngã xe, gãy chân phải. Hỏi anh A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh K không?
Trả lời 19: Bên cho mượn tài sản có các nghĩa vụ sau đây (Điều 516 Bộ luật dân sự năm 2005):
- Cung cấp thông tin cần thiết về việc sử dụng tài sản và khuyết tật của tài sản, nếu có;
- Thanh toán cho bên mượn chi phí sửa chữa, chi phí làm tăng giá trị tài sản, nếu có thoả thuận;
- Bồi thường thiệt hại cho bên mượn, nếu biết tài sản có khuyết tật mà không báo cho bên mượn biết dẫn đến gây thiệt hại cho bên mượn, trừ những khuyết tật mà bên mượn biết hoặc phải biết. Bên cho mượn tài sản có các quyền sau đây (Điều 517 Bộ luật dân sự năm 2005):
- Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thoả thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý;
- Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thoả thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn;
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản do người mượn gây ra. Như vậy, anh A biết phanh xe máy bị mòn nhưng không báo cho anh K biết dẫn đến gây thiệt hại cho anh K thì anh A phải bồi thường thiệt hại cho anh K.
IV. Quản lý hành chính:
Câu hỏi 20: Gia đình có được bảo lãnh hành chính cho T không? T là đối tượng bị đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh, trong quá trình xác minh lý lịch để hoàn thiện hồ sơ đối với T, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định được T có nơi cư trú nhất định và gia đình của T muốn xin bảo lãnh hành chính. Trường hợp này gia đình có được bảo lãnh hành chính cho T không? Ai là người có thẩm quyền ra quyết định bảo lãnh hành chính?
Trả lời 20: Bảo lãnh hành chính là việc giao cho gia đình, tổ chức xã hội nhận quản lý, giám sát người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong thời gian cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục xem xét, quyết định việc áp dụng các biện pháp này nếu người đó có nơi cư trú nhất định.
Theo Điều 19 của Nghị định số 43/2005/NĐ – CP ngày 05 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ thì việc bảo lãnh hành chính đối với người có quyết định đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh được quy định như sau:
- Trong quá trình xác minh lý lịch hoàn thiện hồ sơ đối tượng, nếu xác định đối tượng có nơi cư trú nhất định thì cơ quan Công an cấp huyện nơi đối tượng có hành vi vi phạm chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan Công an cấp huyện nơi đối tượng cư trú để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đối tượng cư trú quyết định giao việc bảo lãnh hành chính cho gia đình, tổ chức xã hội nơi đối tượng cư trú. Trường hợp đối tượng là người chưa thành niên thì trách nhiệm bảo lãnh hành chính được giao cho cha, mẹ hoặc người giám hộ.
- Gia đình, tổ chức xã hội, người được giao trách nhiệm bảo lãnh có trách nhiệm không để đối tượng tiếp tục vi phạm pháp luật và bảo đảm sự có mặt của đối tượng tại nơi cư trú khi được yêu cầu.
- Trưởng Công an cấp huyện nơi đã ra quyết định đưa đối tượng vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh có trách nhiệm huỷ quyết định đó.
Đối chiếu với các quy định nêu trên của pháp luật, thì gia đình T có quyền bảo lãnh hành chính.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi T cư trú sẽ là người quyết định giao việc bảo lãnh hành chính cho gia đình.
Câu hỏi 21: Mức trợ cấp tối đa cho một người thiệt hại là bao nhiêu?
Nguyễn Văn B là chiến sĩ bộ đội biên phòng của Đồn 216 đóng quân trên địa bàn tỉnh HT, trong một lần trấn áp bọn tội phạm ma tuý đã bị chúng dùng súng bắn trọng thương, phải điều trị dài ngày tại bệnh viện với tỷ lệ thương tật vĩnh viễn 12%. Nguyễn Văn B có được hưởng trợ cấp không? Mức trợ cấp tối đa cho một người thiệt hại là bao nhiêu?
Trả lời 21: Theo quy định của pháp luật thì Nguyễn Văn B là người trực tiếp tham gia phòng, chống tội phạm ma tuý bị thương tích, tổn hại về sức khoẻ thì được nhà nước trợ cấp, các khoản trợ cấp bao gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại.
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.
- Người bị thiệt hại do bị thương tích, tổn hại về sức khoẻ được người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật xem xét, quyết định trợ cấp một lần bằng tiền; mức trợ cấp bao gồm các chi phí thực tế cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại và thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.
Những trường hợp trợ cấp từ 10.000.000đ (mười triệu) đồng trở lên phải lập Hội đồng tư vấn để xét trợ cấp nhưng tối đa không vượt quá 20.000.000đ (hai mươi triệu) đồng cho một người bị thiệt hại.
V. Thi hành án:
Câu hỏi 22: Quyết định thi hành án. Sau khi thi hành án cấp thành phố ra quyết định thi hành án dân sự, thì quyết định này có hiệu lực trong bao lâu? Nếu quá thời gian thi hành án khá lâu, nhưng vẫn chưa thi hành án, thì bên được thi hành án có quyền khiếu nại cơ quan thi hành án thành phố không? mẫu đơn khiếu nại như thế nào? Gửi đến cơ quan nào? Rất mong phúc đáp của các bạn, xin chân thành cám ơn!
Trả lời 22: Khoản 3 Điều 6 Pháp lệnh thi hành án dân sự quy định: "Căn cứ vào quyết định thi hành án, Chấp hành viên định cho người phải thi hành án thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án để tự nguyện thi hành án". Như vậy, Theo quy định trên, trường hợp bạn hỏi: sau khi thi hành án cấp thành phố ra quyết định thi hành án, thì Chấp hành viên định cho người phải thi hành án một thời hạn nhất định nhưng không vượt quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án để người phải thi hành án tự nguyện thi hành án. Sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 Pháp lệnh thi hành án dân sự, nếu có căn cứ xác minh người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không thi hành thì Cơ quan thi hành án phải ra quyết định cưỡng chế thi hành án đối với người phải thi hành án. Trong trường hợp hết thời hạn tự nguyện thi hành án nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành mà cơ quan thi hành án thành phố không ra quyết định cưỡng chế thi hành án khi không có lý do chính đáng là vi phạm trình tự, thủ tục thi hành án.
Trường hợp có căn cứ cho rằng thi hành án của thành phố cố tình kéo dài việc thi hành án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, thì họ có quyền làm đơn đề nghị cơ quan nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 60 Pháp lệnh thi hành án dân sự xem xét, giải quyết khiếu nại. Để thực hiện quyền khiếu nại của mình theo quy định của pháp luật, người khiếu nại có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để viết đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp với Thủ trưởng cơ quan thi hành án có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên địa chỉ của người khiếu nại; tên địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung khiếu nại (quyết định hoặc hành vi bị khiếu nại); lý do khiếu nại (có thể nêu rõ những căn cứ pháp lý chứng minh quyết định, hành vi của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên là trái pháp luật); yêu cầu của người khiếu nại và chữ ký của người khiếu nại hoặc người địa diện hợp pháp.
Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp tại cơ quan thi hành án, thì cán bộ Cơ quan thi hành án phải có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn hoặc lập biên bản về việc khiếu nại với những nội dung như đơn khiếu nại nêu trên, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.
Nếu việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện, thì người đại diện cho đương sự thực hiện quyền khiếu nại phải xuất trình giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện ( ví dụ: giấy uỷ quyền...)
Câu hỏi 23: Theo quyết định của Tòa án thi ông A phải trả cho Ngân hàng B số tiền 1.200.000.000đ, tại thời điểm thi hành án thi nợ gốc và lãi chậm thi hành án lên tới.1.500.000.000đ. Tài sản định giá, thông báo bán đấu giá 2 lần không người mua (giá định lần 2 là 1.450.000.000đ) sau đó có người thỏa thuận mua tài sản với giá 800.000.000đ cả hai bên A & B đều đồng ý bán với giá trên. Sau khi thưc hiện xong nghĩa vụ thì bên A không còn tài sản và bên B đồng ý để cơ quan thi hành trả lại đơn yêu cầu. Như vây, cơ quan thi hành án có có chấp nhận thỏa thuân đó không hay phải tiếp tục định giá lại tài sản?
Trả lời 23 : Khoản 1 Điều 43 Pháp lệnh thi hành án dân sự và khoản 1 Điều 23 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ quy định: "Tài sản đã kê biên được định giá theo thoả thuận giữa người được thi hành án, người phải thi hành án và chủ sở hữu chung trong trường hợp kê biên tài sản chung. Thời hạn để các bên đương sụ thoả thuận về giá không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày tài sản được kê biên"
Căn cứ quy định trên, thì trường hợp bạn nêu, tài sản đã được đưa ra thông báo bán đấu giá. Vì vậy, các bên đương sự đã hết thời hạn để thoả thuận. Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án cần căn cứ theo quy định tại Điều 48 Pháp lệnh thi hành án dân sự để định giá lại và tiếp tục đưa tài sản ra bán đấu giá theo đúng quy định của pháp luật.
VI. Chính sách người có công với cách mạng:
Câu hỏi 24: Tôi là vợ liệt sĩ, chồng tôi hy sinh khi chúng tôi chưa có con. Bố mẹ của chồng tôi đã chết trước khi anh nhập ngũ. Sau thời gian chồng tôi được báo tử, tôi đi tái giá nhưng không có con với người chồng sau. Nay người chồng thứ hai của tôi đã chết. Vậy, tôi có được hưởng trợ cấp tuất liệt sĩ không?
Trả lời 24: Theo Khoản 2 - Điều 5 – Mục 3 – Chương I Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ, trường hợp vợ hoặc chồng liệt sĩ đã lấy chồng hoặc vợ khác nhưng có nuôi con liệt sĩ đến tuổi trưởng thành hoặc chăm sóc bố, mẹ liệt sĩ khi còn sống được Uỷ ban Nhân dân cấp xã công nhận thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng. Trường hợp của bà chưa có con với liệt sĩ, bố mẹ đẻ của liệt sĩ đã chết trước khi liệt sĩ nhập ngũ do vậy bà không thuộc diện được hưởng trợ cấp tiền tuất liệt sĩ theo qui định tại Nghị định 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ.
Câu hỏi 25: Ông tôi là bố liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng, ông không tham gia hưởng bảo hiểm xã hội nay bị chết, chế độ được giải quyết như thế nào?
Trả lời 25 : Theo Khoản 3 - Điều 6 – Chương I Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ, thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng hoặc trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng mà chết, người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí (nếu thân nhân liệt sĩ không tham gia bảo hiểm xã hội); đại diện người thừa kế theo qui định của pháp luật của thân nhân liệt sĩ được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp tiền tuất hàng tháng hoặc ba tháng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng mà thân nhân liệt sĩ được hưởng khi chết.Trường hợp ông của bạn đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng nay mất, gia đình được nhận mai táng phí và ba tháng trợ cấp tiền tuất của thân nhân liệt sĩ.
Câu hỏi 26: Tôi là đội viên dân phòng, bị thương trong khi làm nhiệm vụ ngăn chặn một cuộc ẩu đả giữa 2 nhóm thanh niên, tuy nhiên vụ việc chỉ bị xử lý hành chính, vậy tôi có được xem xét xác nhận là người hưởng chính sách như thương binh không?
Trả lời 26: Theo qui định tại Điều 11 Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ, chỉ trong những trường hợp bị thương do “dũng cảm đấu tranh chống lại tội phạm hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội là tội phạm được qui định trong Bộ luật Hình sự” thì mới được xem xét xác nhận là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh. Việc ẩu đả giữa 2 nhóm thanh niên mới chỉ bị xử lý hành chính, chưa phải là hành vi tội phạm được qui định trong Bộ luật Hình sự, do vậy trường hợp bị thương của ông chưa đủ điều kiện để xem xét xác nhận là người hưởng chính sách như thương binh.
Câu hỏi 27: Tôi là thương binh đã được giám định thương tật cách đây 5 năm, kết luận suy giảm khả năng lao động 41% vĩnh viễn do thương tật. Nay tình trạng vết thương tái phát rất nặng ảnh hưởng đến sức khoẻ, tôi muốn đề nghị giám định lại có được không? Khi nào thì thương binh được giám định lại thương tật?
Trả lời 27 : Điều 12- Nghị định số 54/2006/NĐ-CP Ngày 26/5/2006 của Chính phủ qui định “…Thương binh được kết luận thương tật tạm thời từ 21% trở lên, sau 3 năm được giám định lại để xác định tỷ lệ thương tật vĩnh viễn… Thương binh sau khi đã được giám định thương tật mà bị thương tiếp do một trong các trường hợp qui định tại Điều 11 Nghị định này thì được giám định bổ sung”. Như vậy, trường hợp của ông đã được Hội đồng Giám định y khoa kết luận tỷ lệ thương tật 41% vĩnh viễn, do vậy không thuộc diện giám định lại thương tật.
Câu hỏi 28: Bố tôi là thương binh loại B, có tỷ lệ mất sức lao động do thương tật 65%. Nay bố tôi chết, chế độ được giải quyết như thế nào?
Trả lời 28: Theo Khoản 2 - Điều 16 – Nghị định 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ thì khi thương binh loại B chết, các chế độ ưu đãi khác được thực hiện như đối với thương binh có cùng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động qui định tại Nghi định này. Trường hợp ông nêu, bố của ông là thương binh loại B tỷ lệ mất sức lao động do thương tật 65%, khi chết gia đình ông được nhận mai táng phí (nếu không tham gia bảo hiểm xã hội); thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp, phụ cấp mà thương binh được hưởng trước khi chết. Tại thời điểm bố của ông chết, mẹ ông đến tuổi 55 trở lên, và các con dưới 18 tuổi hoặc trên 18 tuổi nếu còn tiếp tục đi học; hoặc con bị tàn tật nặng từ nhỏ, khi hết thời hạn hưởng trợ cấp vẫn bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng.
Câu hỏi 29: Chồng tôi là bệnh binh có tỷ lệ mất sức lao động 70%. Nay chồng tôi mất, tôi năm nay 57 tuổi, vậy chế độ được giải quyết như thế nào?Tôi có được hưởng trợ cấp tuất không? Trường hợp tương tự đối với bệnh binh bị suy giảm khả năng lao động 45% thì giải quyết như thế nào?
Trả lời 29 : Theo Khoản 1 - Điều 20 – Nghị định 54/NĐ-CP Ngày 26/5/2006 của Chính phủ thì khi bệnh binh chết, người tổ chức mai táng được nhận trợ cấp mai táng phí; thân nhân bệnh binh được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp, phụ cấp mà bệnh binh được hưởng trước khi chết. Khoản 2 Điều 2 – Nghị định số 54/2006/NĐ-CP quy định: Bệnh binh suy giảm khả năng lao động do bệnh tật từ 61% trở lên chết thì thân nhân được trợ cấp tiền tuất như sau:
- Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng bệnh binh khi đến tuổi 60 trở lên đối với nam, 55 tuổi trở lên đối với nữ; con bệnh binh từ 18 tuổi trở xuống hoặc trên 18 tuổi nếu còn tiếp tục đi học; con bệnh binh bị tàn tật nặng từ nhỏ, khi hết thời hạn hưởng trợ cấp vẫn bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng. Đối chiếu với qui định trên, chồng bà là bệnh binh có tỷ lệ mất sức lao động do bệnh tật 70%, khi chết gia đình bà được nhận trợ cấp mai táng phí (nếu không tham gia bảo hiểm xã hội), chế độ trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp, phụ cấp mà bệnh binh được hưởng trước khi chết. Bà đang ở tuổi 57, bà thuộc diện hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng.
Cũng theo Khoản 2 nêu trên, khi bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 41% - 60% chết, người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí; thân nhân bệnh binh được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp mà bệnh binh được hưởng trước khi chết. Vì vậy, nếu bệnh binh suy giảm khả năng lao động 45% khi chết, gia đình được nhận trợ cấp mai táng phí, và trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp mà bệnh binh được hưởng trước khi chết.
( Nội dung có tham khảo tài liệu Hỏi-đáp pháp luật trên trang website của Bộ Tư pháp)



.jpg)
0 nhận xét:
Đăng nhận xét