![]() |
| Minh họa |
Tình trạng bạo lực gia đình đang diễn ra ngày càng phổ biến ở nhiều nơi. Số vụ bạo hành gia đình gây hậu quả nghiêm trọng có chiều hướng tăng cao. Tình trạng xúc phạm danh dự, nhân phẩm và tính mạng của con người xảy ra hàng ngày chủ yếu đối với phụ nữ và trẻ em. Điều đó không những trái với truyền thống văn hóa tốt đẹp có từ ngàn xưa của dân tộc ta mà quan trọng hơn cả đã xâm phạm đến quyền con người. Tuy nhiên, với nhiều nguyên nhân khác nhau nên các nạn nhân không báo cáo về bạo lực gia đình khi xảy ra. Họ âm thầm chịu đựng thiệt thòi, thậm chí cả khi sức khỏe, tính mạng bị đe dọa. Tình trạng bạo lực gia đình đáng báo động như hiện nay thì việc đẩy nhanh hơn nữa việc thực hiện quan điểm chỉ đạo “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội” trong Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam là hết sức cần thiết.
Việc xây dựng và ban hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất để bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình, góp phần củng cố và xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc trong điều kiện hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là đòi hỏi khách quan của thực tiễn hiện nay. Ngày 21/7/2007, Quốc hội Nước Cộng hòa XHCNVN khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và có hiệu lực từ ngày 01/7/2008.
II. Những nội dung cơ bản của Luật Phòng chống bạo lực gia đình:
1. Phạm vi điều chỉnh: Luật điều chỉnh vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân, gia đình cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Các hành vi bạo lực gia đình: Có 9 hành vi bạo lực gia đình, chia thành 4 nhóm hành vi sau:
Nhóm 1, nhóm hành vi bạo lực về thể chất: bao gồm hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng.
Nhóm 2, nhóm hành vi bạo lực về tinh thần: bao gồm các hành vi lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; ngăn cản việc thực hiện quyền nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chổ ở; cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
Nhóm 3, nhóm hành vi bạo lực về kinh tế: bao gồm chiếm đoạt huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính.
Nhóm 4, nhóm hành vi bạo lực về tình dục: gồm có hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục.
Các thành viên gia đình đã ly hôn, hôn nhân thực tế cũng áp dụng quy định của luật này về bạo lực gia đình. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định của luật đối với trường hợp này không nhằm mục đích khuyến khích hoặc tạo cơ sở pháp lý cho mối quan hệ giữa những người không có đăng ký kết hôn mà sống chung như vợ chồng mà ở đây cần hiểu, quy định như vậy có ý nghĩa đảm bảo cho tất cả những nạn nhân có hành vi bạo lực gia đình được hỗ trợ và bảo vệ đặc biệt.
3. Các hành vi bạo lực gia đình, dẫn đến vi phạm hành chính trực tiếp:
Hành vi: Đánh đập hoặc hành vi khác xâm hại sức khoẻ thành viên gia đình; Hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình; Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình; Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý; Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; Vi phạm quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng; Cưỡng ép kết hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ; Bạo lực về kinh tế; Trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ; Bạo lực đối với người ngăn chặn, phát hiện, báo tin BLGĐ, người giúp đỡ nạn nhân BLGĐ; Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi BLGĐ; Cố ý không ngăn chặn, báo tin hành vi BLGĐ và cản trở việc ngăn chặn, báo tin, xử lý hành vi BLGĐ; Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động hành vi BLGĐ; Tiết lộ thông tin về nạn nhân BLGĐ; Lợi dụng hoạt động phòng chống BLGĐ để trục lợi; Vi phạm quy định về đăng ký hoạt động đối với cơ sở hỗ trợ nạn nhân BLGĐ, cơ sở tư vấn về phòng, chống BLGĐ; Vi phạm quyết định cấm tiếp xúc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.
4. Các hành vi bạo lực gia đình, dẫn đến vi phạm pháp luật hình sự:
Điều 93: Tội giết người; Điều 98: Tội vô ý làm chết người; Điều 100: Tội bức tử; Điều 103: Tội đe doạ giết người; Điều 104: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác Điều 108: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác Điều 111: Tội hiếp dâm; Điều 112: Tội hiếp dâm trẻ em; Điều 113: Tội cưỡng dâm; Điều 121: Tội làm nhục người khác; Điều 123: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; Điều 130: Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ; Điều 132: Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo; Điều 143: Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; Điều 146: Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ;Điều 151: Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; Điều 152: Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
5. Nguyên tắc phòng chống bạo lực gia đình:
- Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
- Hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật
- Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời theo quy định của pháp luật.
- Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ.
- Phát huy vai trò trách nhiệm của cá nhân gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình.
6. Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình:
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, nhân phẩm quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;
- Yêu cầu cơ quan người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo vệ, cấm tiếp xúc;
- Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
- Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật nơi tạm lánh và thông tin khác và các quyền khác theo quy đinh của pháp luật.
Đồng thời với quyền, nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.
7. Phòng ngừa bạo lực gia đình:
Phòng ngừa bạo lực gia đình có mục đích tránh hậu quả, thiệt hại có thể xảy ra khi có hành vi bạo lực gia đình.
Các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình bao gồm:
-Thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình.
- Hoà giải mâu thuẩn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình.
- Tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình.
8. Bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình:
Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình được thực hiện thông qua:
- Các biện pháp bảo vệ, ngăn chặn như phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình; cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình; các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình; cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình (cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân; sử dụng điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi bạo lực với nạn nhân)
Đối với biện pháp cấm tiếp xúc nạn nhân bạo lực gia đình, đây không phải là biện pháp xử lý vi phạm hành chính và chỉ được áp dụng trong trường hợp gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng của nạn nhân, phòng ngừa hậu quả nghiêm trọng hơn nữa có thể xảy ra. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã và Toà án là những cơ quan có thẩm quyền quyết định biện pháp áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc. Tuy nhiên, điều kiện, thẩm quyền và thời hạn áp dụng biện pháp này giữa Uỷ ban nhân dân và Toà án có những điểm khác nhau. Về điều kiện: Có 3 điều kiện sau:
- Nạn nhân bị tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng.
- Có đơn yêu cầu của nạn nhân, người giám hộ, hoặc người đại diện hợp pháp, cơ quan tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình.
- Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc.
+ Về thẩm quyền: Thẩm quyền quyết định biện pháp cấm tiếp xúc là chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình; Thẩm quyền quyết định cấm tiếp xúc của Toà án được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự về các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
+ Về thời hạn: tối đa là 03 ngày đối với trường hợp do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã áp dụng và không quá 4 tháng đối với trường hợp do Toà án áp dụng.
+ Huỷ bỏ biện pháp cấm tiếp xúc khi có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình hoặc khi người ra quyết định cấm tiếp xúc nhận thấy biện pháp này không còn cần thiết.
- Chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Tư vấn cho nạn nhân bạo lực gia đình.
- Hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu và nơi tạm lánh.
9. Các nguyên nhân dẫn đến nạn nhân không báo cáo về bạo lực gia đình xảy ra:
1- Không muốn nói với người ngoài vì cho rằng đây là việc riêng của gia đình.
2- Nỗ lực giảm thiểu bạo lực và tự thuyết phục rằng đây không phải là vấn đề nghiêm trọng.
3- Sợ rằng người gây bạo lực sẽ trả thù bản thân hoặc người thân của họ.
4- Không muốn người gây bạo lực phải rời khỏi nhà, bị đi tù hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự.
5- Xấu hổ, bối rối về tình trạng bạo lực của mình hoặc tự đổ lỗi cho bản thân vì đã để cho tình trạng bạo lực xảy ra.
6- Bị lệ thuộc vào người gây bạo lực về tình cảm.
7- Có niềm tin mãnh liệt rằng cần phải giữ gìn quan hệ vợ chồng và các thành viên trong gia đình cần ở chung với nhau.
8- Sợ bị người khác bêu xấu, coi thường.
9- Bị lệ thuộc vào người gây bạo lực về kinh tế.
10- Sống trong một khu vực bị cô lập.
11- Bị cô lập với xã hội bên ngoài.
12- Phải đối mặt với những rào cản về giao tiếp, ngôn ngữ hay văn hóa.
13- Không tin rằng công an hay hệ thống tư pháp có thể ngăn chặn tình trạng bạo lực.
14- Không tin rằng các cơ quan chức năng có thể giúp đỡ hay bảo vệ cho họ...
10. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình:
- Cá nhân: chấp hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẵng giới, phòng chống ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan tổ chức, người có thẩm quyền.
- Gia đình có trách nhiệm giáo dục, nhắc nhở thành viên bạo lực gia đình thực hiện pháp luật liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình, hoà giải mâu thuẩn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình, can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực, chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình và thực hiện các biện pháp khác phòng, chống bạo lực gia đình.
- Các tổ chức đoàn thể: Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên thực hiện tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích, động viên hội viên và nhân dân chấp hành pháp luật liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình kiến nghị những biện pháp cần thiết với cơ quan nhà nước có liên quan để thực hiện pháp luật liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình, tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, chăm sóc hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình và tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
TÌNH HUỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Câu hỏi 1: Chồng tôi mê chơi cờ bạc, mỗi khi thua bạc về nhà thường hay chửi bới, đánh đập vợ con. Gần đây, còn bắt tôi đưa tiền học của con để đi đánh bạc, tôi không cho đã đuổi đánh tôi làm tôi trượt cầu thang ngã gẫy chân phải vào viện bó bột. Tôi xin hỏi, hành vi của chồng tôi có phải là hành vi bạo lực gia đình không? Các hành vi bạo lực gia đình được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời : Việc chồng chị thường xuyên chửi bới, đánh đập vợ con và còn rượt đuổi đánh làm cho chị bị trượt cầu thang ngã gãy chân phải vào viện bó bột là một trong những hành vi của bạo lực gia đình. Trong trường hợp nầy, chồng chị đã vi phạm vào Điểm a,b Khoản 1, Điều 2 của Luật Phòng chống bạo lực gia đình. Đó là các hành vi:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
Các hành vi bạo lực gia đình được quy định tại Luật phòng chống bạo lực gia đình cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.
Chị phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc các tổ chức đoàn thể ở địa phương để được giúp đỡ. Các hành vi trên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc khởi tố vụ án hình sự, tùy thuộc vào tính chất, mức độ và hậu quả gây ra cho chị.
Trong trường hợp nêu trên, nếu bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lăng mạ, chởi bới, chì chiết thành viên trong gia đình, thì chồng chị sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng ( Theo quy định tại Khoản 1, Điều 11 Nghị định số 110/2009/NĐ-CP của Chính phủ). Đồng thời nếu có hành vi đánh đập hoặc hành vi khác xâm hại đến sức khỏe thành viên gia đình ( như trong trường hợp chồng chị rượt đuổi đánh chị dẫn đến hậu quả chị bị trượt chân cầu thang ngã gãy chân, phải đi bó bột ) thì chồng chị còn phải bị phạt tiền về hành vi nầy với mức xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng (Quy định tại Khoản 1, Điều 9 Nghị định nói trên). Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình với mức phạt nầy, thì thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi chị ở sẽ thực hiện việc xử phạt.
Câu hỏi 2: Ông Nam bực mình và thường xuyên la rầy, vì đứa con trai cưng chiều của ông hay bỏ học, đi chơi. Một hôm, khi thấy người con trai bước vô nhà ông lại tiếp tục chửi mắng, la rầy. Con ông cãi lại và có một số lời lẽ gây cho ông càng thêm tức giận. Sẵn bên cạnh có chiếc ghế nhựa, ông Nam đã dùng chiếc ghế nhựa nầy phang vào người con. Chẳng may chiếc ghế trúng vào đầu gây chảy máu. Mẹ thấy vậy liền bế cậu gọi xe chở vào bệnh viện. Hỏi trường hợp trên có phải là bạo lực gia đình không ? Xử lý trường hợp nầy như thế nào ?
Trả lời: Trong trường hợp vì thương con, nhưng thiếu phương pháp giáo dục con, nên ông Nam thường hay la rầy con, không thuộc hành vi của bạo lực gia đình. Việc ông hay la rầy con cũng xuất phát từ tình thương và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, với mong muốn con mình nên người và trưởng thành. Tuy nhiên, việc giáo dục con cái không thể dùng việc chửi bới hay đánh đập con, mới mong con nghe lời cha mẹ. Thông thường cha mẹ nghĩ rằng con cái lệ thuộc mình, nên việc la rầy, chửi mắng là quyền của cha mẹ. Với tục ngữ của người xưa để lại, nếu không hiểu đúng đắn, dễ dẫn đến hậu quả tiêu cực. Đó là: “Thương cho roi, cho vợt; ghét cho ngọt, cho bùi”. Cha mẹ là tấm gương phản chiếu hình ảnh đối với con cái. Do vậy, việc làm gương của cha mẹ đối với con cái là một trong những chuẩn mực của đạo đức. Cũng không vì thế mà phải nuông chìu con cái quá mực cũng dễ dẫn đến hậu quả tiêu cực. Việc cha mẹ tự nghiêm khắc với bản thân mình, mẫu mực trong cuộc sống cũng là một trong những biện pháp giáo dục đối với con cái. Không phải cứ “cho roi, cho vợt” mới là dạy bảo con cái. Bỡi vì trong thời đại hiện nay, khi mà các phương tiện truyền thông trong xã hội đang ngày càng phát triển, việc tiếp cận thông tin của lớp trẻ đối với hình ảnh, ngôn từ, giao tiếp, hành động… trong xã hội có thể sẽ có sự so sánh trong cuộc sống gia đình và xã hội. Do vậy việc giáo dục con cái không thể dùng các phương pháp”bạo lực” với mong muôn con mình nghe theo lời cha mẹ. Đây có thể là phương pháp giáo dục sai lầm. Nhà giáo dục học “Xô Viết” Ma-Ca-Ren-Co đã từng nói: Dùng phương pháp dạy học cho trẻ phải lấy ưu điểm để khắc phục khuyết điểm. Do vậy, với sự hiếu động của tuổi trẻ, sự suy nghĩ non nớt và nhất là thích mọi người khen hơn là chê. Nên hãy tìm những ưu điểm của trẻ dù nhỏ nhất, dù là nghịch ngơm nhất để khen thưởng kịp thời, có thể sẽ có những tác động tích cực đối với chúng, hơn là la rầy, chửi mắng không đem lại hiệu quả mong muốn. Tuy nhiên, trong trường hợp nầy, nếu một khi gây thương tích cho con, ông Nam đã hối hận và có hành động tích cực đưa con đi điều trị cùng với những lời động viên, xin lỗi con vì sự nóng giận không kìm chế kịp thời của mình, thì có thể không coi là hành động bạo lực gia đình. Nhưng một khi đã có hành động như nêu trên, mà ông Nam cho rằng mình đúng, cứ tiếp tục giữ “quan điểm” dạy con theo kiểu “bạo lực” như vậy, thì ông Nam lại vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình. Trong trường hợp nầy, ông Nam lại vi phạm vào Điểm a,b Khoản 1, Điều 2 của Luật Phòng chống bạo lực gia đình. Đó là các hành vi:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
Tùy thuộc vào tính chất, mức độ, hành vi của ông Nam mà có thể ông bị xử lý theo quy định của pháp luật hành chính hay pháp luật hình sự.
Câu hỏi 3: Sau khi lo gia đình và mua cho vợ chồng người con trai, vợ chồng người con gái, mỗi gia đình một ngôi nhà khang trang. Còn lại một mình bà năm nay đã trên 70 tuổi ở với người con gái út đã 40 tuổi, chưa có gia đình. Tài sản hiện có là một cửa hàng kinh doanh và ngôi biện thự. Bà và người con gái cùng lo kinh doanh, buôn bán. Đến giờ số vốn đã trên 40 tỷ đồng. Bà lại thường xuyên đau yếu. Thấy vậy, người con gái nói với bà chuyển toàn bộ tài sản hiện có cho cô để lo làm ăn kinh doanh. Nghĩ cũng phải, nên bà đồng ý làm thủ tục sang tên cho cô con gái út làm chủ sở hữu toàn bộ tài sản hiện có. Sau một thời gian, người con gái út không muốn nuôi bà nữa. Thường xuyên la lối, nhăn nhó, kiếm chuyện với bà, làm bà luôn buồn bực. Một hôm, cô con gái út nói thẳng với bà là bà hãy về ở với các anh chị, cô không muốn bà có mặt trong nhà cô nữa. Bà cố thuyết phục người con gái để bà ở lại tại nhà, nhưng người con gái không đồng ý và thường xuyên xua đuổi bà đi ra khỏi nhà. Có lúc bà đã uống thuốc ngủ tự tử, nhưng được mọi người đưa đi cấp cứu kịp thởi, nên đã qua khỏi. Hiện nay, bà sống trong tâm trạng buồn bực, bực tức vì bỗng nhiên tài sản không còn gì hết, lại phải thường xuyên bị áp lực tâm lý từ người con gái út. Hỏi trường hợp nầy có phải bạo lực gia đình không ? Phải giải quyết ra sao ?
Trả lời: Trong trường hợp trên đây, thì người con gái út đã vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Theo quy định tại Điểm c, Điểm i, Khoản 1, Điều 2 Luật Phòng chống bạo lực gia đình, với việc: “ Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng”, “ Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở”.
Để giải quyết tình hình nầy, trước hết các thành viên khác của gia đình bà phải có trách nhiệm:
1. Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình;
2. Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình. (Theo Điều 32 của Luật Phòng chống bạo lực gia đình).
Ngoài ra, bản thân bà mẹ hoặc những người thân khác trong gia đình có thể báo cáo với công an nơi gân nhất hoặc với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú để xem xét thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống, bạo lực gia đình. Trong trường hợp nầy, theo quy định tại Điều 10, của Nghị định 110/2009/NĐ-CP của Chính phủ, thì với hành vi thường xuyên gây tổn hại về sức khoẻ, gây tổn thương về tinh thần đối với thành viên gia đình thì có thể bị phạt tiên ftwf 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng
Câu hỏi 4: Mặc dù đã ly hôn, nhưng người chồng vẫn thường xuyên về nhà đánh đập người vợ. Người vợ bỏ nhà, dắt theo 03 đứa con thuê nhà nơi khác để ở và làm ăn nuôi con. Biết được chỗ ở của vợ, một hôm người chồng tìm đến. Hai bên xảy ra cãi vả lớn tiếng. Thấy con dao cắt thịt trên bàn, người chồng chụp lấy và chém thẳng tay vào người vợ. Người vợ đưa hai tay ra đỡ, thì một bàn tay bị đứt lìa, bàn tay còn lại bị đứt thấu xương. Mọi người xung quanh thấy sự việc như trên liền la lớn và cấp tốc đưa người vợ đi cấp cứu tại bệnh viện. Hỏi trong trường hợp nầy có phải là bạo lực gia đình không ?
Trả lời: Trong trường hợp nầy, mặc dù vợ chồng đã ly hôn, nhưng với mọi hành vi làm tổn hại đến người vợ cũ vẫn được xem là hành vi của bạo lực gia đình.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Phòng chống bạo lực gia đình, thì hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.
Để xử lý hành vi bạo lực gia đình, tùy từng trường hợp cụ thể người có hành vi bạo lực gia đình có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý bằng pháp luật hình sự. Việc người chồng cầm dao chém vào người vợ là một trong những hành vi gây nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng đến tính mạng của người vợ. Ở đây có thể người chồng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh: “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác” theo Điều 104 Bộ Luật Hình sự hoặc có thể với tội danh “Giết người” theo quy định tại Điều 93 Bộ Luật Hình sự. Với hành vi cầm dao chém thẳng vào người vợ là người chồng đã cố ý tước đi mạng sống của người vợ, mặc dù người vợ đã ly hôn. Như vậy, người chồng có thể đã phạm vào tội “Giết người”. Việc người vợ đưa tay ra chống đỡ là theo bản năng tự vệ và chưa chết có thể là ngoài ý muốn của người chồng.
Câu hỏi 5: Vợ chết, một mình ông K ở vậy nuôi người con trai khôn lớn. Mặc dù cảnh “gà trống nuôi con”, nhưng với sự tháo vác, ông K cũng đã gây dựng một cơ nghiệp khang trang. Ngôi nhà cấp 3, với mảnh vườn rộng cả ngàn mét vuông. Hiện nay ông đã trên 80 tuổi, người con cũng đã gần 60 tuổi. Một hôm người con nói với cha mình rằng: Con dựng cho cha cái hiên sau nhà, ra đó ở. Khi địa phương điều tra, nhà ở của cha thuộc diện đơn sơ, hộ nghèo, sẽ được cấp tiền để xây cho cha một ngôi nhà mới. Ông cụ nghe lời. Ngày ngày chui ra, chui vô mái hiên tranh dột nát đó. Hỏi có phải là trường hợp bạo lực gia đình không ?
Trả lời : Việc người con của ông K bảo ông ra ở ngoài mái hiên che tạm, để được hưởng chính sách trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo về: “ Xóa nhà ở đơn sơ hộ nghèo” là một việc làm tham lam, thiếu đạo đức. Trong trường hợp nầy, chưa phải là trường hợp bị bạo lực gia đình.
Trước hết, phải thấy rằng người con đã đối xử tệ bạc với cha mình. Tuy nhiên, việc làm nầy lại được người cha đồng tình. Mặc dù đang ở trong ngôi nhà do chính mình xây dựng nên, nhưng có thể vì thương con hoặc cũng có thể suy nghĩ chưa đúng đắn trong việc lợi dụng chính sách của Nhà nước, nên người cha mới đồng tình để ra ở bên ngoài mái hiên. Đây là việc làm cần được dư luận xã hội và mọi người lên án với lương tâm, trách nhiệm và tình thương yêu, đùm bọc giữa các thành viên trong gia đình. Nếu không được người cha đồng tình mà người con cứ bắt buột người cha của mình phải ra ở bên ngoài mái hiên là vi phạm pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình./.




.jpg)
0 nhận xét:
Đăng nhận xét